Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Lễ Mân Côi : ĐƠN GIẢN MÀ HỮU HIỆU

Nhiều nhà đạo đức vốn không đồng thuận với chủ nghĩa duy hiệu năng. Nếu chỉ nhắm đạt kết quả bằng mọi giá, nghĩa là bất chấp mọi phương thế thì quả là một sai lầm trầm trọng. Giáo hội luôn khẳng định rằng mục đích không thể biện minh cho phương tiện. Tuy nhiên trong khi anh em Phật tử chủ trương diệt dục tận căn, từ bỏ cả ước muốn được vào Niết bàn, vì còn muốn vào Niết bàn thì vẫn còn vương cái “dục”, thì Kitô hữu lại được mời gọi trên hết hãy tìm kiếm Nước Trời là hạnh phúc vĩnh cửu.
Đã là người con cái Chúa thì ai cũng khát mong được “rỗi linh hồn”, được hưởng kiến Thánh Nhan Thiên Chúa sau cuộc đời dương thế này. Như thế, chúng ta hết thảy đều có một mục đích tối hậu để kiếm tìm. Để đạt mục đích nào đó thì cần biết sử dụng những phương thế, phương tiện thích hợp, hữu hiệu. Chúa Nhật kính Mẹ Maria Mân Côi, giáo hội mời gọi đoàn con đến với người Mẹ nhân lành để đón nhận một phương thế Mẹ đã ưu ái trao ban đó là tràng chuỗi Mân côi.
Nhiều nhà tu đức xưa nay đều chân nhận rằng tràng chuỗi Mân côi chính là cuốn Tin mừng tóm gọn, vì đó là quảng đường Mẹ Maria đã từng bước theo Chúa Kitô, bắt đầu khi Ngôi Lời Nhập thể cho đến khi Người sống lại và lên trời vinh hiển. “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành”(Ga 18,24). Chúa Kitô ở đâu thì Mẹ Maria ở đấy với Chúa. Và có thể nói chắc chắn rằng, những ai sống mầu nhiệm Mân côi thì Mẹ Maria ở đâu, họ cũng ở đấy với Mẹ. Nhân các bài đọc Lời Chúa trong thánh Lễ Mân côi mà giáo hội cho trích đọc, xin có một vài nghĩ suy về một con đường, hay có thể nói là một cách thế để dõi theo chân Mẹ Maria.
Thánh tông đồ dân ngoại nói với tín hữu Galata cũng như với chúng ta qua bài đọc thứ hai như sau:“Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu kên: Áp-ba, Cha ơi!” Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”(Gal 4,6-7). Để theo chân Mẹ Maria ra khỏi cảnh đời nô lệ mà bước vào phận làm con, chúng ta cùng xem xét một vài nét biểu lộ tình con cái mà Mẹ Maria đã sống với Thiên Chúa và với tha nhân là anh chị em của mình như thế nào.
-Với Thiên Chúa là Cha: Khi đã tin nhận Thiên Chúa là Cha giàu lòng từ bi nhân hậu, là Người Cha trên các người cha thì không một người con nào giữ trong lòng và trong cách sống sự sợ hải. Đây chính là tinh thần thơ bé mà Chúa Kitô đã từng nhiều lần mời gọi chúng ta sống để được vào Nước trời. Trẻ thơ vốn an bình trong vòng tay của mẹ cha và thường thì không vấn vương chút hãi sợ nào. Trẻ thơ cũng không ngần ngại hỏi mẹ cha những điều chúng chưa biết, chưa hiểu. Trong thực tế, nhiều bậc cha mẹ vừa thấy vui và cũng vừa thấy mệt trước những câu hỏi của đứa con lên năm, lên sáu. Càng lớn lên thì người ta càng có nhiều nỗi sợ hải khiến người ta ngần ngại không dám hỏi, không dám chất vấn những người trên mình, những người đang nắm quyền cao, chức trọng. Khi Chúa Giêsu nói về cuộc khổ nạn Người sắp chịu tại Giêrusalem thì các tông đồ dù không hiểu ý nghĩa nhưng đã không dám hỏi lại Người vì các ông sợ hải (x.Lc 9,43-45). Trái lại, khi không hiểu nội dung lời sứ thần truyền tin Mẹ Maria đã không ngại ngần hỏi sứ thần: “Việc ấy xảy ra cách nào được vì tôi không biết đến việc vợ chồng”(Lc 1,34).
-Với tha nhân là anh chị em của mình: Huynh đệ như thủ túc. Đã xem nhau là anh chị em ruột thịt thì sự hiệp nhất, hiệp thông trong tình liên đới là điều hiển nhiên cần phải có. Mẹ Maria đã thể hiện mối tình huynh đệ ấy bằng việc thường xuyên hiện diện với các tông đồ, sau khi Chúa Kitô phục sinh, về trời. Sách công vụ tông đồ ghi lại sự thật này: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy phụ nữ, với bà Maria, thân mẫu Đức Giêsu, và với anh em của Đức Giêsu” (Cv 1,14).
“Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước trời”(Mt 18,3). Chắc chắn chúa Giêsu không dạy chúng ta sống tinh thần ấu trỉ nhưng là tinh thần trẻ thơ. Với tràng chuỗi Mân côi Mẹ Maria trao ban, ước gì chúng ta biết noi gương Mẹ sống tình con thơ với Cha trên trời và dĩ nhiên cũng phải biết sống tình huynh đệ với tha nhân.
Phép lần hạt năm sự vui, thứ nhất thì gẫm Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai...Sống tinh thần con thơ để không ngại ngần hỏi Thiên Chúa: Cha ơi, giờ đây, lúc này, Cha muốn truyền dạy con điều gì? Sống tinh thần huynh đệ để rồi ngẫm xem cha trên trời muốn tôi chuyển sứ điệp gì cho tha nhân, cho người anh em bên cạnh?
Năm sụ thương, thứ nhất thì gẫm Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu…Sống tinh thần con thơ cũng như tình đệ huynh để mạnh dạn tự kiểm và quan sát xem mình cũng như tha nhân đã và đang phạm những lỗi lầm nào khiến Chúa Kitô phải đau khổ đến dường ấy.
Năm sự Mừng, thứ nhất thì gẫm Đức Chúa Giêsu sống lại…Sống tình con thơ để ngẫm xem mình cần phải chỗi dậy ở mặt nào đây. Sống tình huynh đệ hiệp thông để ý thức mình phải nâng tha nhân lên, phải vực xã hội này lên ở lãnh vực nào đây.
Kinh Mừng Maria…Kính Mừng Maria…Lời kinh đơn so mà có thể nói hầu hết tín hữu Công giáo đều thuộc nằm lòng chính là phương thế đơn giản mà hữu hiệu để về trời. Lời kinh ấy có thể được cất lên trong Nhà Thờ, trong gia đình hay riêng một mình, trong nhiều thời điểm của ngày sống, khi đi lao động, khi nấu nướng hay lúc ngồi chờ xe buýt…Xin cám ơn Mẹ đã ưu ái trao ban cho chúng ta, bất kể trẻ hay già, bất kể khả năng hơn hay kém, bất kể hoàn cảnh thuận hay nghịch, một phương thế tuyệt hảo để sống đời con thơ đó là tràng chuổi Mân côi.
Nhiều vị thánh đã mạnh mẽ khẳng định rằng những ai trung thành lần chuỗi mân côi thì chắc chắn sẽ không mất phần rỗi linh hồn. Điều này cũng dễ hiểu vì có người mẹ nào khi con cái thường xuyên khẩn xin “cầu cho chúng con là kẻ có tội” mà lại không cứu giúp, nhất là trong giờ lâm tử. Hơn nữa khi cùng với Mẹ, noi gương Mẹ sống đời con thảo thì hệ luận như tất yếu phải đến: “đã là con thì cũng là người được thừa kế gia tài Thiên Chúa hứa ban.”
Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Chúa Nhật XXVII Thường Niên C : XIN BAN THÊM ĐỨC TIN CHO CHÚNG CON

Một hiện trạng của con người trong nền văn minh hiện đại đó là sự bất an. Khi nền khoa học công nghệ càng phát triển tân kỳ thì con người càng như thấy mình đang đối diện với nhiều dữ kiện bất thường. Đó không chỉ là những biến đổi khó lường của thiên nhiên mà còn là những đổi thay trong đời sống xã hội và nhất là những xáo trộn trong đời sống tâm lý lẫn tâm linh của con người. Mọi sự đều là có thể. Câu ngạn ngữ này trước đây vốn ám chỉ đến khả năng to lớn của con người, thì nay lại dường như ứng với các tình huống xấu đang rình chờ ập xuống trên nhân loại chúng ta.
Các tiện nghi vật chất không bảo đảm cho sự yên bình. Nền khoa học hiện đại cũng không là một bảo đảm cho sự ổn định. Nhìn vào hệ thống an ninh, tình báo, quân sự “khổng lồ” của các nước phát triển chúng ta nhận ra sự thật này: nhân loại chúng ta đang sống trong cảnh bất an. Sự bất an, bất định ấy nó diễn ra ngay trong chính cái nền tảng của xã hội đó là cuộc sống gia đình. Các con số thống kê về tỉ lệ hôn nhân đổ vỡ, về tình trạng ly thân, li dị đủ để minh chứng điều này.
Tình trạng “bấp bênh” trên đây chính là một thách đố lớn cho con người thời đại hôm nay. Đối diện với thách đố ấy, bên cạnh những nỗ lực khắc phục mang tính kỷ thuật công nghệ hay mang tính tâm lý xã hội thì niềm tin chính là chiếc chìa khóa giải mã cho vấn đề. Dù không phổ biến những cũng đã từng có nhiều người, nhiều tập thể tìm sự giải thoát bằng sự cuồng tín, bằng nhiều hình thức mê tín lầm lạc.
Trong cảnh khốn cùng dường như vô vọng của dân Chúa xưa, ngôn sứ Habacuc đã thấy thị kiến và nhận lệnh: “Hãy viết lại thị kiến và khắc vào tấm bia cho ai nấy đọc được xuôi chảy…Này đây, ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục, còn người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng tin của mình”(Hb 2,2-4).
“Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”(Lc 17,5). Sau khi khẳng định rằng: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em”, thì Chúa Giêsu đã minh họa lòng tin ấy bằng thái độ phục vụ của người đầy tớ, một người ý thức rằng “mình chỉ làm những việc phải làm” theo ý của chủ mà thôi.
Thánh tông đồ dân ngoại nhắc nhủ môn đệ Timôtê rằng: “Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một thần khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ”(2Tm 1,7). Như thế chúng ta có thể nhận ra thánh ý của vị chủ tể tối cao để thực thi đó là:
-Biết tự chủ: Làm chủ bản thân là tiền đề của việc thành nhân và thành người con Chúa đúng nghĩa. Ai không làm chủ được các cảm xúc, các tham muốn và các hành động của mình thì vẫn mãi còn là trẻ con hay dù đã lớn nhưng chưa trưởng thành. Một trong những nét phân biệt giữa con người với loài vật đó là biết dừng, biết nói không với những gì xấu xa, bất chính và với cả những gì tuy tự chúng không xấu nhưng có thể làm cản trở mình vươn lên tới những điều tốt đẹp hơn.
-Can đảm sống yêu thương đến cùng: Yêu thương ở đây không phải chỉ với tình cảm nhân loại thường tình nhưng phải như Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta. Tình yêu của Chúa Kitô dành cho chúng ta được minh họa rõ nét qua mầu nhiệm tự hủy, tự hạ của Người. Vốn giàu sang, Người đã tự nguyện trở nên nghèo hèn vì chúng ta. Vốn là Thiên Chúa, Người đã mang lấy thân phận tôi đòi như chúng ta. Vốn là Con chiên tinh tuyền Người đã nhận lấy án hình của một tội nhân đầy nhuốc hổ thay cho chúng ta (x.Pl 2,6-11).
Tin không đơn thuần là một sự chấp thuận của lý trí, nhưng trên hết đó là một sự dấn thân của ý chí tự do. Kitô hữu chúng ta tin không phải là chấp thuận một vài chân lý, một vài tín điều nào đó, nhưng chúng ta tin nghĩa là chúng ta quyết đi theo một Đấng và Đấng ấy chính là Giêsu Kitô.
Theo Chúa Kitô với bước khởi đầu là làm chủ con người mình để rồi biết sống yêu thương đến cùng, thì dù nhiều sự khó khăn vẫn còn đó, dù cho những điều bất trắc của cuộc sống có lẽ sẽ không ít đi, nhưng chúng ta lại có sự bình an đích thực. “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy”(Mt 16,25). Lời khẳng định của Chúa Giêsu trên đây giúp chúng ta hiểu thế nào là tin.
Ngày nay vẫn có đó nhiều người trong chúng ta, thậm chí cả những đấng bậc đáng kính trong giáo hội không ngừng kêu gọi sự tự chế, hăng say rao giảng tình yêu, nhưng bản thân lại còn ngần ngại từ bỏ danh phận, quyền uy, lợi lộc của mình, và dĩ nhiên cũng khó bề từ bỏ cả mạng sống mình. Chính Chúa Kitô đã từng than thở: “Khi Con Người đến, liệu người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”(Lc 18,8).
“Lạy Chúa, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Thậm nghĩ rằng đây là một lời cầu khẩn thiết cần được lặp đi lặp lại từng ngày.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Chúa Nhật XXVI Thường Niên C (Lc.16,19-31) : CÓ MẮT MÀ KHÔNG TRÒNG HAY CÓ TIM MÀ ĐÃ KHÔ TÌNH

Văn phong dụ ngôn là một loại hình văn chương rất quen thuộc với người Do Thái thời Chúa Giêsu, dẩu vậy nó không đương nhiên dễ hiểu đối với Kitô hữu, kể cả hôm nay. Qua một câu chuyện có thể rất thường nhật, người kể muốn truyền đạt một chân lý nào đó. Chìa khoá để nắm bắt ý tưởng người kể muốn nói, bình thường ta cần chú ý đến câu kết của câu chuyện hoặc một chi tiết nào đó xem ra không ‘lôgich’ với tiến trình của câu chuyện.
Ông nhà giàu trong dụ ngôn trên khi đang trầm luân trong âm phủ (hay hoả ngục) lại có lòng nghĩ đến các anh em đang còn dương thế quả là một chi tiết nghịch lý thú vị. Tuy nhiên cái thú vị này lại hướng chúng ta trở về với ông thời còn tại thế. Gia cảnh giàu có, phải chăng vì ông ta biết cách kinh doanh? Điều này ta không rõ, nhưng Chúa Giêsu không minh nhiên kể rằng nhờ làm ăn bất chính mà ông giàu có. Có tiền, có của thì ăn mặc lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình đâu phải là điều đáng lên án. Tuy nhiên điều đáng trách nơi ông ta là cái sự “không thấy” anh Ladarô nghèo khổ, mụn nhọt đầy mình nằm trước cổng nhà ông đang nhỏ “nước miếng” thèm thuồng của ăn thừa, thức ăn rơi vải từ bàn ăn của ông ta mà chẳng được. Tất thảy vì một lẽ này: nhiều người và cả ông nhà giàu “đã có nhìn mà chẳng thấy”. Nhìn mà không thấy hẳn có nhiều nguyên nhân, thế nhưng cái nguyên nhân chính ở câu chuyện này hẳn ta phải rõ. Đó là sự vô tâm, lòng dửng dưng của ông nhà giàu trước cảnh tình khốn khổ của đồng loại. Không ai ngây ngô tin rằng nếu ở trần gian này gặp nhiều sự may lành thì mai sau sẽ “xuống hoả ngục” hoặc ngược lại nếu gặp sự khốn khổ ở đời này thì mai sau sẽ “lên thiên đàng”. Chính bởi cái tâm và cung cách sống của ta đối với tha nhân, nhất là đối với bần cùng, khốn khổ mới quyết định số phận đời đời của chúng ta. Nội dung Tin mừng, đặc biệt Tin mừng Matthêu chương 25 cho ta khẳng định điều này. Quả thật ông nhà giàu trong dụ ngôn đã phải trầm luân dưới âm phủ là vì sự dửng dưng, sự vô tâm của ông trước cảnh tình của anh Ladarô nghèo khổ.
Đọc Tin mừng, chúng ta phải ngạc nhiên, vì có những tội ta xem là lớn và quả thật nó cũng gây tai hại thế mà Chúa Giêsu bỏ qua và tha thứ dễ dàng,chẳng hạn những tội về tính xác thịt. Cả đến tội ngoại tình như chuyện người đàn bà bị bắt quả tang trong Tin Mừng Gioan thì Chúa Giêsu lại ngõ lời rất nhân từ: “Ta cũng không kết tội chị. Hãy về và đừng phạm tôi nữa”. Trái lại, Ngài mạnh mẽ lên án sự vô tâm, sự dửng dưng trước người nghèo, người khốn khổ, người tội lỗi.
Tuy nhiên ta phải ngạc nhiên vì câu kết của dụ ngôn trên bằng lờì của Abraham: “Môsê và các ngôn sứ mà họ chẳng còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ chẳng chịu tin”. Câu kết này làm ta nhớ lại lời của Chúa Giêsu: “họ có mắt mà không thấy, có tai mà chẳng nghe”. Đúng hơn, họ có nhìn mà không muốn thấy, có nghe mà chẳng chịu tin, tức là nghe theo. Thấy điều phải làm, nghe điều phải đạo mà vẫn làm ngơ hay tìm cách bào chữa thì hẳn có nhiều nguyên cớ. Có thể là do tự cao tự mãn, vì mình học cao biết rộng không cần ai dạy; có thể là do có quyền có chức, không muốn ai chỉ bày vì như thế là mình kém phẩm; có thể bởi những lý do khác, nhưng cái lý do mà dụ ngôn này muốn nói chính là sự giàu có, nhiều tiền, đầy đủ của cải vật chất, đủ đầy tiện nghi.
“Tiền của càng phình ra thì con tim càng dễ bó hẹp lại”. Một câu nói đáng cho ta cảnh tỉnh. Xin được thêm mắm muối câu chuyện cha Antony de Mello từng kể. Tại một giáo xứ giàu ở phương Tây, nhà xứ đã sang trọng nhưng còn kém Nhà thờ. Mọi vật dụng hầu như toàn bằng đá cẩm thạch, kể cả nền nhà và các băng ghế. Chỉ duy tượng Chúa chịu nạn là bằng gổ nhưng là một thứ gổ rất quý. Vào một đêm đông giá rét, “ông từ” gõ cửa nhà xứ : “Cha ơi có người ăn xin muốn ngủ nhờ”. Sau khi xem xét người bất hạnh giây lát, cha xứ nghĩ thầm: vào nhà xứ thì không tiện, đành cho anh này trú tại nhà thờ vậy. Lấy gì để anh ta đắp đây? Chăn nệm nhà xứ sẽ bẩn mất. Thôi, anh này quen chịu lạnh rồi, một đêm không đến nỗi gì”. Thế là ngài quyết định cho anh ngủ nhờ tại nhà thờ sau khi không quên dặn dò ông từ khoá kỷ càng các tủ đựng áo lễ, chén thánh... Cẩn tắc vô ưu. Thế nhưng đêm ấy dường như ngài ngủ không ngon giấc. Chẳng biết lý do gì. Chợt trở mình ngài thoáng thấy có ánh lửa bập bùng phía nhà thờ. Nhè nhẹ mở cửa, trời ơi, anh ăn xin đang sưởi ấm bên đống lửa gần tàn. “Ôi lạy Chúa”- cha xứ giơ hai tay lên trời – “ Quân vô đạo này đã đốt cháy Chúa chết rồi”. Bức tượng chịu nạn đang cháy gần hết. Bổng ngài nghe văng vẳng tiếng ai đó bên tai: “nếu ta bị đốt chết cháy thì con hãy đến bên đống lửa khơi xem thử có xương của ta không?”. Lời ấy lại tiếp tục vang lên: “Sao con mãi băn hăn bó hó lo cho cái ảnh tượng bất động của ta mà lại hững hờ, vô tâm với hình ảnh sống động của ta! Giả như ta đang tại thế hẳn ta cũng tự nguyện chết đi cho con người được sống. Hãy xem lại lòng con, cách hành xử của con đối với ảnh tượng bất động của ta. Dù cho chúng ở trên nhà thờ sang trọng hay ở trên ngực các đấng vị vọng, tất cả cộng lại, chúng có xứng với một hình ảnh sống động của ta chăng?” Cha xứ im lặng trở về mở sách giáo luật, phụng vụ, thần học… Câu trả lời ở đâu đây? Các bạn giúp ngài một tay!
Ôi dào, tầm phào vu vơ chuyện tây. Ăn cơm ta phải bàn chuyện ta chứ. Xin phép tưởng tượng một chuyện bịa như thật: Sau biến cố 1975, một nhà dòng truyền giáo kia cùng số phận với nhều dòng tu khác, cơ sở bị trưng thu. Dân An-nam, nói rộng hơn, người Đông phương ít khi “cạn tàu ráo máng” khi hành xử với nhau. Nhà dòng này hưởng nhờ tập quán tốt đẹp ấy. Một số đất kha khá được cấp cho nhưng là thuộc xóm dân dã quê nghèo. Đón nhận thánh ý Chúa tuy chẳng vui gì nhưng không tủi phận, vì đâu chỉ dòng ta vương nạn. Thánh giá nào lại không thô nhám, đau vai khi còn mới. Lâu ngày, đôi vai dần quen, nhiều khi lai thấy êm êm. Sống giữa bà con dân dã mới hiểu thế nào là bà con xa không bằng láng giềng gần. Rỗ khoai mới, không ăn một mình, lứa bắp đầu mùa, nhà nào cũng được chia, không phải để ăn cho no nhưng ai ai cũng ấm cái tình, tình làng nghĩa xóm. Nếu tính về vật chất, nhà dòng nhận nhiều hơn chia, nhưng về tinh thần, không gia đình nào thay được. Nhà dòng trở thành trung tâm của sự gặp gỡ, liên đới, hiệp nhất. Bóng hình các tu sĩ xuất hiện ở các nhà lân cận không còn ai bỡ ngỡ. Thăm một cụ già yếu liệt, giúp đám trẻ học kinh bổn, giáo lý, chia sẽ một ít thuốc thang quý hiếm đã trở thành chuyện thường tình. Cái tình khi đã trở thành chuyện thường phải chăng là nhân đức? Cái “đức nhân” ẩn hiện muôn màu muôn vẻ.
Ngót nghét gần hai muơi năm trôi. Đất nước mở cửa. Kinh tế nhà nhà đi lên. Số phận nhà dòng may mắn hơn. Nhờ sự giúp đỡ của quý cơ quan nước ngoài, nhà cửa xây mới, trụ sở khang trang bốn năm lầu đẹp đẽ. Phải có cơ sở để đào tạo. Nhà tập, học viện, nhà nguyện…từ từ vươn lên giữa bầu trời xanh. Nhu cầu thật chính đáng. Đã có nhà đẹp thì phải có cổng lớn. Cổng lớn thì hàng rào phải cao. Không chỉ cao mà còn phải có chông hay giây thép gai bảo vệ. Cũng thật là chính đáng. Một sự thật ngoài ý đã đến. Tình thân giữa nhà dòng với bà con lối xóm giảm dần vì gần nhà mà xa cửa ngõ. Cách mặt thì xa lòng, chuyện bình thường như nhiên xưa nay vẫn vậy.
Một chiều kia, theo lời mời của vị bề trên tổng quyền, các đấng vị vọng các hội dòng khác đều có mặt. Nội dụng cuộc họp mặt rất thời sự và rất thánh: “sống năm thánh truyền giáo”. Chủ đề thảo luận là ưu tiên đem tin mừng cho người nghèo. Tin mừng Luca : ‘Thần Khí Chúa ngự trên tôi…’( Lc 4,18-19 ). Các vị tham dự thảo luận, góp ý cực kỳ sôi nổi và không kém các luận chứng thần học Thánh kinh, thần học mục vụ cũng như truyền giáo học cao sâu.
Bỗng một hồi tiếng đập cửa dồn dập vang lên. Tu sĩ giữ cổng không cầm được sự nóng giận : “Có chuyện gì thì bấm chuông, sao mà đập cửa ồn ào thế, không biết nhà dòng đang hội nghị hay sao ?” “ Dạ thưa…Bà em đang ho ghê lắm, bà...bà khó thở, cho em gặp bề trên”, một bé gái vừa nhón gót cho tới lổ trống của cánh cổng vừa hổn hển thưa. “Đi về đi, ho mãi rồi sẽ hết ho. Nhà dòng đang Hội nghị về truyền giáo, ưu tiên đem tin mừng cho người nghèo. Đang làm chuyện rất quan trọng, đừng làm phiền bề trên” vị tu sĩ nói dứt khoát. Miếng tôn che lổ trống của cánh cổng được sập xuống.
Hội Nghị thành công mỹ mãn. Sau hội nghị dĩ nhiên có liên hoan. Có liên hoan thì có ca hát. Một bài hát không thể thiếu trong buổi liên hoan ấy được cất lên để hát chung la bài “Đẹp thay, ôi đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rổi…”Rất hợp chủ đề, bài ca được tất cả hoà giọng. Trùng hợp thay, tiếng ca của bài hát càng lớn dần thì cơn ho của bà lão xóm giềng cũng nhỏ dần, nhỏ dần và tắt hẳn.
Chẳng thể cứ mãi mê chuyện bịa. Xin hầu một chuyện thật, thật như bịa.
Mẹ Tê-rê-xa kể: “Lần kia tôi đi dự một hội nghị ở Bom Bay về việc cứu giúp những người nghèo. Đến cửa phòng hội, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà, sau đó người ấy chết, chết vì đói. Đang lúc đó bên trong phòng hội, hàng trăm người đang hăng hái bàn luận về nạn đói và về vấn đề lương thực, để có cái này, để có cái kia…Đang lúc họ vạch kế hoạch cho cả 15 năm, thì người này phải chết vì đói”. Mẹ Tê-rê-xa Calcutta nói: “Tôi luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình mình trước, rồi đến khu xóm, đến thành phố…Yêu thương những người ở xa thì rất dễ, nhưng yêu thương người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là khó. Tôi không đòng ý với những cách làm ồn ào. Tình thương phải bắt đầu từ một cá nhân: muốn yêu thương một người bạn phải tiếp xúc người đó”. Mẹ nói tiếp: “Tôi không bao giờ nhìn đám đông như là trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi chỉ yêu thương được một người. Tôi đã đưa một người về nhà, nhưng nếu tôi không đưa người ấy về nhà thì tôi đã không đưa được 42.000 người về nhà. Toàn thể công việc của tôi chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một giọt”.
Cha Anthony De Mello cảm nhận sự thật: Một cái thực đơn dù có ngon đi mấy và bắt mắt đi mấy cũng không thể nào ăn được. Một mùa xuân trong tranh vẻ, tuy đẹp đấy nhưng chẳng phải là mùa xuân. Một con én không thể làm nên mùa xuân, nhưng sẽ chẳng bao giờ có mùa xuân nếu không có từng con chim én một.
Lắm khi ta tự thích thú, hài lòng về vẽ đẹp của tranh để bù trừ cho sự thiếu thốn của hiện thực. Một bài diễn thuyết hay về truyền giáo chưa hẳn là một tấm lòng chia sẽ tin mừng. Là Kitô hữu ‘thực sư’, ít có ai lại nỡ vô tình với người đồng loại. Nhưng nhiều khi chính tiện nghi dẫn ta đến chỗ vô tình ta chẳng hay.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa - Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Chúa Nhật XXV Thường Niên C : CỦA CẢI HAY THẦN TÀI?

“Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng”(Am 8,7). Vì sao Thiên Chúa lấy danh mình mà thề những lời đanh thép như thế? Vị ngôn sứ đã cho chúng ta biết cái lý do. Đó là vì sự gian ác bất công của một số người giàu có trong xã hội nước Israel thời bấy giờ. Tính chất gian ác của sự bất công mà họ gây ra thật đáng lên án vì nạn nhân chính là những người nghèo khổ, cô thân, kém phận. Số phận của các nạn nhân này được ví không hơn gì đôi dép. “Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy đứa cùng khổ”(Am 8,6).
Đọc Thánh Kinh, đặc biệt những lời từ miệng của Con Thiên Chúa làm người, chúng ta nhận ra chân lý này: hình như Thiên Chúa dễ khoan dung về những lầm lỗi mà con người xúc phạm đến Người, nhưng Người có vẻ rất bất bình trước những điều gian ác mà con người gây ra cho nhau, nhất là cho những người nghèo hèn, thấp cổ bé phận. Nhân chuyện ông Phêrô hỏi rằng khi có người anh em xúc pham đến mình thì phải tha thứ cho họ mấy lần thì Chúa Giêsu đã kể câu chuyện dụ ngôn về “một người mắc nợ mà không có lòng thương xót (x.Mt 18,23-35).
Anh “không có lòng thương xót này” mắc nợ đức vua những mười ngàn yến vàng thế mà chỉ với hành vi sấp mình bái lạy và xin khất nợ một kỳ hạn thì đã được đức vua tha bỗng tất cả số nợ khổng lồ. Mức nặng nhẹ của một lỗi hay tội có thể tăng hay giảm tùy vào đối tượng mà hành vi lỗi tội ấy xúc phạm. Theo góc nhìn này thì quả thật mọi hành vi lỗi tội của con người xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng là Chúa Tể càn khôn, thì đều “to lớn và nặng nề” khó bề đền trả được như món nợ “mười ngàn yến vàng” minh họa. Thế mà ông vua trong câu chuyện dụ ngôn xem ra hào phóng cách khác thường. Tuy nhiên khi nghe biết chuyện cái anh “trúng số” này lại thiếu lòng thương xót với người bạn vốn mắc nợ anh ta vỏn vẹn chỉ trăm đồng, thì đức vua đã đổi ngược thái độ cách dứt khoát với anh ta và sai gia nhân bắt tống giam anh này vào ngục cho đến khi trả hết món nợ kếch xù kia.
Tình yêu thật có nhiều điều như nghịch lý. Nhiều đấng bậc mẹ cha dễ dàng bỏ qua nhưng lầm lỗi mà con cái xúc phạm đến bản thân mình nhưng dường như không thể chịu nỗi cái cảnh chúng hành khổ, đày đọa những đứa anh em, chị em kém may mắn. Sau khi xác định giới luật tình yêu là mến Chúa hết lòng hết sức hết linh hồn và yêu thương tha nhân như chính mình, thì Chúa Giêsu đã không lấy việc cầu nguyện hay dâng lễ vật vào Đền Thờ để minh họa, nhưng đã đưa ra hình ảnh người Samaritanô nhân hậu, người đã có lòng thương xót một nạn nhân đi từ Giêrusalem về Giêricô bị bọn cướp trấn lột và đánh nguy kịch, bằng cách chăm sóc giúp đỡ nạn nhân cách tận tình mà không chút tính toán thiệt hơn (x.Lc 10,25-37).
Khi nghe câu chuyện dụ ngôn về người quản gia bất lương, chắc chắn ít ai ngây thơ đến độ nghĩ rằng Chúa Giêsu dạy chúng ta bắt chước sự ranh ma của anh quản gia ăn gian tiền bạc của ông chủ. Chắc chắn sau khi biết được kế ma mãnh của anh này thì dù có chép miệng khen, nhưng rồi thế nào ông chủ cũng sẽ trừng trị anh ta đích đáng. Nội dung chính của câu chuyện dụ ngôn nằm ở câu kết luận: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”(Lc 16,9).
Chúng ta cần phải xác định rõ hạn từ “Tiền Của bất chính”. Chắc chắn Chúa Giêsu không bao giờ dạy chúng ta sử dụng những thứ tiền của kiếm được cách bất chính, bất lương hay phi pháp. Thế thì phải hiểu như thế nào đây. Không ngại ngần để khẳng định rằng “tiền của bất chính” ở đây phải được hiểu là của cải trần gian. Hầu hết các bản dịch Kinh Thánh đều ghi là “the Mammon of unrighteousness” hay nghĩa tương đương. Nhưng cũng có một vài bản dịch dùng hạn từ “Worldly Wealth” hay “Base Wealth”. Hạn từ “Mammon” nhắc nhớ chúng ta sự thật này: Khi của tiền được tôn phong lên hàng thần thánh thì chắc chắn trở thành bất chính. Chúa Kitô đã cảnh báo: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được”(Lc 16,13). “Vai mang bị bạc kè kè, nói quấy nói quá chúng nghe rầm rầm”. Khi đã đặt niềm tin vào sức mạnh của tiền bạc thì người ta dễ bị cám dỗ không chỉ lao mình vào những hành vi bất nhân thất đức mà còn bị cám dỗ tự phong thần phong thánh cho bản thân mình.
Thánh Phaolô khẳng định rằng mọi sự thuộc về chúng ta. Chúng ta thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa. Không gì hơn là hãy trả của cải vật chất về đúng vị trí của nó. Nó là của cải chứ không phải là thần tài. Biết dùng của cải, tiền bạc để làm phát triển tình tương thân tương ái là một trong những phương thế sử dụng của tiền cách hữu ích cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay và ngày sau. Nhiều tín hữu phân trần với các vị mục tử rằng: Với chúng con, vấn đề không phải là ở chỗ sử dụng mà là ở khâu tìm kiếm tiền bạc. Đây là một vấn nạn mang tính hiện sinh. Khi của tiền đi vào bằng con đường bất chính thì sự thường nó sẽ đi ra bằng con đường bất nghĩa, bất lương. Chính vì thế sẽ không thừa nếu chúng ta tự đặt câu hỏi: Tôi tìm kiếm của tiền vì mục đích gì? (để làm gì?) và tôi đang kiếm tìm của tiền theo cách thế nào? có chính đáng, hợp pháp, công minh không? Cũng xin đừng quên xem xét cách thế sử dụng tiền bạc của chúng ta. Dù thuộc quyền sở hữu của mình nhưng nếu chúng ta sử dụng của cải cách hoang phí thì cũng lỗi đức công bình và dĩ nhiên đáng bị kết án cách nghiêm minh.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Chúa Nhật XXIV Thường Niên C : THÀ YÊU LẦM CÒN HƠN BỎ SÓT

Các bài đọc của Chúa Nhật XXIV TN C, cách riêng bài Tin Mừng có vẻ khá quen thuộc với Kitô hữu, nhất là với những người chuyên chăm tham dự Thánh Lễ và xem trọng phần Phụng Vụ Lời Chúa. Thánh Kinh trình bày về tình yêu của Thiên Chúa thật phong phú và đa dạng. Tuy nhiên cũng có thể khẳng định rằng những dòng tin mừng theo thánh sử Luca ở chương XV mà Giáo Hội cho trích đọc một phần trong Thánh Lễ Chúa Nhật này quả là một mạc khải gây “chưng hửng” cho không chỉ nhiều người biệt phái năm xưa mà còn cho cả chúng ta hôm nay, dĩ nhiên là nếu chúng ta biết “suy đi nghĩ lại” như Mẹ Maria và biết đặt mình vào chính ngữ cảnh khiến Chúa Giêsu phán dạy những Lời ấy.
Ngữ cảnh: Giêsu thành Nagiarét, một vị tôn sư đầy quyền năng trong lời giảng dạy cũng như trong hành động (x.Mt 7,29; Mc 6,2), một người được dân chúng mến mộ tôn xưng vào hàng ngôn sứ (x.Mt 16,13-15)…, Người không chỉ chuyên chăm chữa lành bệnh tật cho dân chúng và xua trừ ma quỷ ra khỏi những người chúng ám, Người còn giảng dạy các chân lý về Nước Trời và mời gọi người ta hoán cải ăn năn. Thế mà Người lại thường xuyên lui tới và cùng ngồi ăn uống với những hại dân hại nước là “bọn thu thuế” và “phường bán thân nuôi miệng”. Bá nhân bá tánh, mười người trăm ý, chuyện miệng tiếng người đời thì làm sao lường cho xuễ. Cũng thế, việc một số người biệt phái và luật sĩ lảm bẩm, xầm xì và bình phẩm chuyện Chúa Giêsu thường xuyên lui tới và cùng ngồi ăn uống với người thu thuế và phường “tội lỗi” thì cũng không là vô cớ. Ngài Giêsu đã không từng giảng dạy rằng chớ có làm cho người ta vấp phạm đấy ư. Ngài còn mạnh miệng cho rằng nếu ai làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn thì thà cột cối đá vào cổ người ấy mà liệng xuống biển còn hơn. Tuy nhiên chúng ta đừng quên cớ vấp phạm ở đây là cái nguyên nhân xấu. Còn những dữ kiện gây thắc mắc, gây tranh luận, gợi thao thức là việc khác hoàn toàn. Chính Chúa Giêsu đã từng ví Người là viên đá vấp cho nhiều người, đúng như lời tiên tri Simêon loan báo dịp cha mẹ Người đem Người lên Giêruslem để làm lễ tiến dâng theo Lề Luật (x.Lc 2,33-35).
Nguyên cớ gây thao thức: Tình yêu đón nhận mọi sự hạn chế, mọi sự bất toàn. Khi nghe đọc bài tin mừng về dụ ngôn người con hoang đàng hay đã được sửa lại là dụ ngôn người cha nhân hậu hoặc đã từng được đề nghị là dụ ngôn người con ganh tị. Đã từng một thời Kitô hữu được gợi ý là tập trung vào hình ảnh người con phung phá hoang đàng để nhận biết thân phận tội lỗi của mình để rồi sám hối, ăn năn. Cũng đã từng có lúc người ta tập trung vào hình ảnh người con cả của câu chuyện để mời gọi Kitô hữu cảnh giác với sự ganh tương đố kỵ như trường hợp một số người biệt phái ngày xưa, hoặc biết phản tỉnh với lối sống “người thì bên trong mà lòng thì bên ngoài”. Vì lắm khi chúng ta tuy mang danh con cái Chúa, nhưng chỉ là “hữu danh vô thực”. Thời gian gần đây ngưởi ta tập trung vào tình yêu bao la của người cha nhân hậu và có thể nói rằng đây chính là trọng tâm của lời mạc khải qua câu chuyện dụ ngôn mà Chúa Giêsu kể hôm ấy.
Nói đến sự bao la của tình yêu Thiên Chúa, một số đấng bậc có vẻ như ngại ngần vì cho rằng sẽ làm cớ cho đoàn tín hữu sống ỉ lại. Và rồi số vị ấy thích đề cao sự công thằng của Thiên Chúa hơn. Một số vị khác thì phân vân như đứng giữa ngã ba đường khi vừa nói đến lòng thương xót của Thiên Chúa vừa nói đến sự công thẳng của Người. Thiên Chúa là Đấng tốt lành vô cùng và cũng là Đấng công bình vô cùng. Khởi đầu triều đại giáo hoàng của mình Đức Bênêđictô XVI qua Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu đã nhấn mạnh hiện thực này: Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Người cho nhân loại chúng ta một cách như chống lại sự công minh của Người (x.số 10).
Người cha trong câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể đã rộng tay chia gia tài cho các con. Ông chia gia tài cho đứa con mở miệng kêu xin và chia cho cả đứa con không xin. Ông ta quả là liều lĩnh và bất chấp các tình huống có thể xảy ra. Ông chẳng thể lường đứa con thứ kêu xin sẽ sử dụng gia tài ra sao. Ông cũng chẳng biết đứa con còn lại không xin vì không dám xin hay vì không muốn xin. Không lưỡng lự, ông đã chia cho cả hai.
Chắc chắn người cha nhân hậu biết rõ tình cảnh bi đát đến độ thua cả loài heo của đứa con đi hoang, vì chính người con cả đã khẳng định sự thật này (x.Lc30). Thế mà ông cứ ngày ngày ngóng trông đứa con “bất hiếu và hỏng hư” quay gót trở về. Lòng của ông vẫn ắp đầy niềm hy vọng sẽ có ngày thấy con mình “đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Và kìa, nó đây rồi, nó đã trở về. Nó về vì thương cha già này hay là chỉ xót cái bụng rỗng của nó? Không sao cả, tình yêu không cần đặt điều kiện. Đứa con lớn đang ở trong nhà mà lòng như kẻ ăn người ở, ông cũng đón nhận hết tình. Không sao cả, rồi sẽ đến lúc nó hiểu rằng mọi sự của ông là dành cho nó, đã thuộc về nó, vì mọi sự của cha đều là của con (x.Lc 15,31).
Đã yêu thì không ngồi chờ người mình yêu hoàn thiện rồi mới đón nhận. Đón nhận người mình yêu cả trong sự hạn chế lẫn bất toàn của người mình yêu thì mới là tình yêu đích thực vô cầu, vô vị lợi, nghĩa là chỉ vì người mình yêu. Thánh tông đồ dân ngoại khẳng định chân lý này khi nói rằng Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ban ơn tha thứ cho chúng ta, đưa chúng ta về làm con cái Thiên Chúa ngay khi chúng ta còn là kẻ phản nghịch, nghĩa là ngay khi chúng ta đang còn trong cảnh tình tội lỗi.
Xin đừng sợ bị lợi dụng, chẳng thà yêu lầm còn hơn bỏ sót. Xin đừng ngồi chờ tha nhân hoàn thiện rồi chúng ta sẽ yêu thương. Chính tình yêu của chúng ta, một tình yêu vô điều kiện mới là động lực giúp tha nhân nên hoàn thiện. Đồng thời cũng chính tình yêu ấy sẽ giúp chúng ta hoàn thiện vì chúng ta đang ngày càng nên giống Cha, Đấng hoàn thiện ở trên trời, Đấng cho mưa rơi đều trên người lành lẫn kẻ bất lương, cho mặt trời mọc lên soi người công chính lẫn tội nhân (x.Mt5,48).
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Bài đăng xem nhiều nhất :