Hiển thị các bài đăng có nhãn Thư viện - Thông tin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thư viện - Thông tin. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011

Đưa 200.000 tài liệu miễn phí lên mạng

Trong 3 năm tới, người sử dụng sẽ dễ dàng tiếp cận các tài liệu học tập, giảng dạy và nghiên cứu trên nền Internet và các thiết bị di động như điện thoại di động, máy tính bảng… một cách miễn phí.
Tập đoàn FPT và ĐH Quốc gia Hà Nội vừa ký kết hợp tác xây dựng hệ thống "Thư viện Mở Việt Nam" (Việt Nam Open Book), với mục tiêu trong 3 năm tới cung cấp khoảng 200.000 đầu tài liệu, sách phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Sau khi hoàn tất, trong giai đoạn đầu, hệ thống thư viện này sẽ hoàn toàn miễn phí cho người dùng trong và ngoài ĐH Quốc gia Hà Nội.

Lãnh đạo ĐH Quốc gia Hà Nội và Tập đoàn FPT ký biên bản ghi nhớ. Ảnh: Tiến Dũng.
GS TS Mai Trọng Nhuận, Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết, việc xây dựng hệ thống thông tin số phục vụ chuyển giao tri thức, nâng cao dân trí này sẽ giúp sinh viên "giải cơn khát" giáo trình. Hơn nữa, điều này cũng sẽ giúp số hóa nhiều tài liệu quý của trường.
Tổng giám đốc FPT Nguyễn Thành Nam chia sẻ, tập đoàn luôn mong muốn xây dựng môi trường, công cụ giúp tri thức và công nghệ mới được lan tỏa khắp cộng đồng. Việc cùng ĐH Quốc gia Hà Nội xây dựng hệ thống thư viện mở là một trong các chương trình trọng tâm của FPT trong những năm tới nhằm kết nối và chia sẻ tri thức thông qua áp dụng công nghệ.
"FPT cũng sẽ nghiên cứu, sản xuất các thiết bị đọc sách rẻ nhất để tất cả sinh viên đều có thể sở hữu và đọc sách ở mọi nơi", ông Nam nói.
ĐH Quốc gia Hà Nội sẽ phối hợp với FPT xây dựng giải pháp, công nghệ; tư vấn các sản phẩm, dịch vụ thông tin có chọn lọc cho người dùng; xây dựng nội dung của hệ thống thư viện mở (không bao gồm các vấn đề về bản quyền); cung cấp miễn phí tài liệu mà trường có bản quyền… FPT là nhà cung cấp tài chính cũng như công nghệ, giải pháp, hạ tầng thiết bị CNTT, lưu trữ và truyền dẫn cho việc xây dựng Hệ thống thư viện mở…

Tiến Dũng

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

Free eBooks

Bartleby Library
Provides access to reference works such as the Columbia Encyclopedia, the American Heritage Dictionary and the Roget's Thesaurus. It also contains ebooks on history, verses and quotations, cooking, as well as works by selected authors.
Council on Library & Information Resources (CLIR)
Provides access to full-text reports, white papers, newsletters and research briefs on library and information-related topics.
Ebrary
Provides freely viewable books on selected topics. Requires the free ebrary Reader for browsing and searching the text.
Electronic Text Center
Contains over 1,800 publicly available ebooks including classic British and American fiction, major authors, children's literature, the Bible, Shakespeare, American history, African-American documents. Text is accessible in HTML (web version) for online viewing, and can be downloaded as both a MS Reader E-book for the Microsoft Reader and a Palm-readable text for the Palm Reader.
eserver.org
Based at the Iowa State University, this website attempts to provide an alternative niche for quality work. The collection includes collections works on contemporary art, race, Internet studies, sexuality, drama, design, multimedia, accessible publishing and current political and social issues. In addition to written works, it also provides audio and video recordings.
Fliplibrary.com
Provides access to over 2,500 eText books searchable by keywords, author, title and categorized into various subjects such as Fiction, Natural History, Poetry, Drama, Science, Technology, Religion, etc.
Internet Public Library
The Reading Room provides a searchable annotated catalog of books, magazines and newspapers freely available over the Internet.
National Academies Press
Offers over 3,000 books freely available online. The books are categorized into various subjects, and can also be searched by title or text using their search engine.
netLibrary
Offers over 3,400 ebook titles for free, in addition to the titles which the Library subscribes.
The On-Line Books Page
contains a searchable listing of over 20,000 ebooks available on the Internet for free. Created and maintained by John Mark Ockerbloom at the University of Pennsylvania.
Project Gutenberg
Makes available public domain publications in ASCII text format. Included are light literature, like Alice in Wonderland and Aesop's Fables, heavy literature such as Shakespeare's plays and reference materials like Roget's thesarus. The files are for downloading and viewing offline.

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

Công ước Berne


Copyright Basics
Table of Contents
•What Is Copyright?
•Who Can Claim Copyright
•Copyright and National Origin of the Work
•What Works Are Protected?
•What Is Not Protected by Copyright?
•How to Secure Copyright
•Publication
•Notice of Copyright
o Form of Notice for Visually Perceptible Copies
o Form of Notice for Phonorecords of Sound Recordings
o Position of Notice
o Publications Incorporating U.S. Government Works
o Unpublished Works
o Omission of Notice and Errors in Notice
•How Long Copyright Protection Endures
•Transfer of Copyright
o Termination of Transfers
•International Copyright Protection
•Copyright Registration
•Registration Procedures
o Original Registration
o Special Deposit Requirements
o Unpublished Collections
•Effective Date of Registration
•Corrections and Amplifications of Existing Registrations
•Mandatory Deposit for Works Published in the United States
•Use of Mandatory Deposit to Satisfy Registration Requirements
•Who May File an Application Form?
•Application Forms
•Fill-in Forms
•Fees
•Search of Copyright Office Records
•For Further Information

WHAT IS COPYRIGHT?
Copyright is a form of protection provided by the laws of the United States (title 17, U.S.
Code) to the authors of “original works of authorship,” including literary, dramatic, musical,
artistic, and certain other intellectual works. This protection is available to both published
and unpublished works. Section 106 of the 1976 Copyright Act generally gives the owner of
copyright the exclusive right to do and to authorize others to do the following:
•To reproduce the work in copies or phonorecords;
•To prepare derivative works based upon the work;
•To distribute copies or phonorecords of the work to the public by sale or other
transfer of ownership, or by rental, lease, or lending;
•To perform the work publicly, in the case of literary, musical, dramatic, and
choreographic works, pantomimes, and motion pictures and other audiovisual works;
•To display the copyrighted work publicly, in the case of literary, musical, dramatic,
and choreographic works, pantomimes, and pictorial, graphic, or sculptural works,
including the individual images of a motion picture or other audiovisual work; and
•In the case of sound recordings, to perform the work publicly by means of a digital
audio transmission.
In addition, certain authors of works of visual art have the rights of attribution and integrity
as described in section 106A of the 1976 Copyright Act. For further information, request
Circular 40, “Copyright Registration for Works of the Visual Arts.”
It is illegal for anyone to violate any of the rights provided by the copyright law to the
owner of copyright. These rights, however, are not unlimited in scope. Sections 107 through
121 of the 1976 Copyright Act establish limitations on these rights. In some cases, these
limitations are specified exemptions from copyright liability. One major limitation is the
doctrine of "fair use," which is given a statutory basis in section 107 of the 1976 Copyright
Act. In other instances, the limitation takes the form of a "compulsory license" under which
certain limited uses of copyrighted works are permitted upon payment of specified royalties
and compliance with statutory conditions. For further information about the limitations of
any of these rights, consult the copyright law or write to the Copyright Office.

WHO CAN CLAIM COPYRIGHT
Copyright protection subsists from the time the work is created in fixed form. The copyright
in the work of authorship immediately becomes the property of the author who created the
work. Only the author or those deriving their rights through the author can rightfully claim
copyright.
In the case of works made for hire, the employer and not the employee is considered to be
the author. Section 101 of the copyright law defines a "work made for hire" as:
•(1) a work prepared by an employee within the scope of his or her employment; or
•(2) a work specially ordered or commissioned for use as:
o a contribution to a collective work
o a part of a motion picture or other audiovisual work
o a translation
o a supplementary work
o a compilation
o an instructional text
o a test
o answer material for a test
o an atlas
if the parties expressly agree in a written instrument signed by them that the work shall be
considered a work made for hire....
The authors of a joint work are co-owners of the copyright in the work, unless there is an
agreement to the contrary.
Copyright in each separate contribution to a periodical or other collective work is distinct
from copyright in the collective work as a whole and vests initially with the author of the
contribution.
Two General Principles
•Mere ownership of a book, manuscript, painting, or any other copy or phonorecord
does not give the possessor the copyright. The law provides that transfer of
ownership of any material object that embodies a protected work does not of itself
convey any rights in the copyright.
•Minors may claim copyright, but state laws may regulate the business dealings
involving copyrights owned by minors. For information on relevant state laws,
consult an attorney.

COPYRIGHT AND NATIONAL ORIGIN OF THE WORK
Copyright protection is available for all unpublished works, regardless of the nationality or
domicile of the author.
Published works are eligible for copyright protection in the United States if any one of the
following conditions is met:
•On the date of first publication, one or more of the authors is a national or
domiciliary of the United States, or is a national, domiciliary, or sovereign authority
of a treaty party,* or is a stateless person wherever that person may be domiciled; or
* A treaty party is a country or intergovernmental organization other than the United
States that is a party to an international agreement.

•The work is first published in the United States or in a foreign nation that, on the date
of first publication, is a treaty party. For purposes of this condition, a work that is
published in the United States or a treaty party within 30 days after publication in a
foreign nation that is not a treaty party shall be considered to be first published in the
United States or such treaty party, as the case may be; or
•The work is a sound recording that was first fixed in a treaty party; or
•The work is a pictorial, graphic, or sculptural work that is incorporated in a building
or other structure, or an architectural work that is embodied in a building and the
building or structure is located in the United States or a treaty party; or
•The work is first published by the United Nations or any of its specialized agencies,
or by the Organization of American States; or
•The work is a foreign work that was in the public domain in the United States prior to
1996 and its copyright was restored under the Uruguay Round Agreements Act
(URAA). Request Circular 38b, "Highlights of Copyright Amendments Contained in
the Uruguay Round Agreements Act (URAA-GATT)," for further information.
•The work comes within the scope of a Presidential proclamation.

WHAT WORKS ARE PROTECTED?
Copyright protects "original works of authorship" that are fixed in a tangible form of
expression. The fixation need not be directly perceptible so long as it may be communicated
with the aid of a machine or device. Copyrightable works include the following categories:
1. literary works;
2. musical works, including any accompanying words
3. dramatic works, including any accompanying music
4. pantomimes and choreographic works
5. pictorial, graphic, and sculptural works
6. motion pictures and other audiovisual works
7. sound recordings
8. architectural works
These categories should be viewed broadly. For example, computer programs and most
"compilations" may be registered as "literary works"; maps and architectural plans may be
registered as "pictorial, graphic, and sculptural works."
WHAT IS NOT PROTECTED BY COPYRIGHT?
Several categories of material are generally not eligible for federal copyright protection.
These include among others:

•Works that have not been fixed in a tangible form of expression (for example,
choreographic works that have not been notated or recorded, or improvisational
speeches or performances that have not been written or recorded)
•Titles, names, short phrases, and slogans; familiar symbols or designs; mere
variations of typographic ornamentation, lettering, or coloring; mere listings of
ingredients or contents
•Ideas, procedures, methods, systems, processes, concepts, principles, discoveries, or
devices, as distinguished from a description, explanation, or illustration
•Works consisting entirely of information that is common property and containing no
original authorship (for example: standard calendars, height and weight charts, tape
measures and rulers, and lists or tables taken from public documents or other
common sources)

HOW TO SECURE A COPYRIGHT
Copyright Secured Automatically upon Creation
The way in which copyright protection is secured is frequently misunderstood. No
publication or registration or other action in the Copyright Office is required to secure
copyright. (See following Note.) There are, however, certain definite advantages to
registration. See "Copyright Registration."
Copyright is secured automatically when the work is created, and a work is "created" when
it is fixed in a copy or phonorecord for the first time. "Copies" are material objects from
which a work can be read or visually perceived either directly or with the aid of a machine
or device, such as books, manuscripts, sheet music, film, videotape, or microfilm.
"Phonorecords" are material objects embodying fixations of sounds (excluding, by statutory
definition, motion picture soundtracks), such as cassette tapes, CDs, or LPs. Thus, for
example, a song (the "work") can be fixed in sheet music (" copies") or in phonograph disks
(" phonorecords"), or both.
If a work is prepared over a period of time, the part of the work that is fixed on a particular
date constitutes the created work as of that date.

PUBLICATION
Publication is no longer the key to obtaining federal copyright as it was under the Copyright
Act of 1909. However, publication remains important to copyright owners.
The 1976 Copyright Act defines publication as follows:
"Publication" is the distribution of copies or phonorecords of a work to the public by sale or
other transfer of ownership, or by rental, lease, or lending. The offering to distribute copies
or phonorecords to a group of persons for purposes of further distribution, public
performance, or public display constitutes publication. A public performance or display of a
work does not of itself constitute publication.
NOTE: Before 1978, federal copyright was generally secured by the act of
publication with notice of copyright, assuming compliance with all other relevant
statutory conditions. U. S. works in the public domain on January 1, 1978, (for
example, works published without satisfying all conditions for securing federal
copyright under the Copyright Act of 1909) remain in the public domain under the
1976 Copyright Act.
Certain foreign works originally published without notice had their copyrights
restored under the Uruguay Round Agreements Act (URAA). Request Circular
38b and see the "Notice of Copyright" section of this publication for further
information.
Federal copyright could also be secured before 1978 by the act of registration in
the case of certain unpublished works and works eligible for ad interim copyright.
The 1976 Copyright Act automatically extends to full term (section 304 sets the
term) copyright for all works, including those subject to ad interim copyright if ad
interim registration has been made on or before June 30, 1978.
A further discussion of the definition of "publication" can be found in the legislative history
of the 1976 Copyright Act. The legislative reports define "to the public" as distribution to
persons under no explicit or implicit restrictions with respect to disclosure of the contents.
The reports state that the definition makes it clear that the sale of phonorecords constitutes
publication of the underlying work, for example, the musical, dramatic, or literary work
embodied in a phonorecord. The reports also state that it is clear that any form of
dissemination in which the material object does not change hands, for example,
performances or displays on television, is not a publication no matter how many people are
exposed to the work. However, when copies or phonorecords are offered for sale or lease to
a group of wholesalers, broadcasters, or motion picture theaters, publication does take place
if the purpose is further distribution, public performance, or public display.
Publication is an important concept in the copyright law for several reasons:
•Works that are published in the United States are subject to mandatory deposit with
the Library of Congress. See discussion on "Mandatory Deposit for Works Published
in the United States."
•Publication of a work can affect the limitations on the exclusive rights of the
copyright owner that are set forth in sections 107 through 121 of the law.
•The year of publication may determine the duration of copyright protection for
anonymous and pseudonymous works (when the author's identity is not revealed in
the records of the Copyright Office) and for works made for hire.
•Deposit requirements for registration of published works differ from those for
registration of unpublished works. See discussion on "Registration Procedures."
•When a work is published, it may bear a notice of copyright to identify the year of
publication and the name of the copyright owner and to inform the public that the
work is protected by copyright. Copies of works published before March 1, 1989,
must bear the notice or risk loss of copyright protection. See discussion on "Notice of
Copyright" below.

NOTICE OF COPYRIGHT
The use of a copyright notice is no longer required under U. S. law, although it is often
beneficial. Because prior law did contain such a requirement, however, the use of notice is
still relevant to the copyright status of older works.
Notice was required under the 1976 Copyright Act. This requirement was eliminated when
the United States adhered to the Berne Convention, effective March 1, 1989. Although
works published without notice before that date could have entered the public domain in the
United States, the Uruguay Round Agreements Act (URAA) restores copyright in certain
foreign works originally published without notice. For further information about copyright
amendments in the URAA, request Circular 38b.
The Copyright Office does not take a position on whether copies of works first published
with notice before March 1, 1989, which are distributed on or after March 1, 1989, must
bear the copyright notice.
Use of the notice may be important because it informs the public that the work is protected
by copyright, identifies the copyright owner, and shows the year of first publication.
Furthermore, in the event that a work is infringed, if a proper notice of copyright appears on
the published copy or copies to which a defendant in a copyright infringement suit had
access, then no weight shall be given to such a defendant's interposition of a defense based
on innocent infringement in mitigation of actual or statutory damages, except as provided in
section 504(c)(2) of the copyright law. Innocent infringement occurs when the infringer did
not realize that the work was protected.
The use of the copyright notice is the responsibility of the copyright owner and does not
require advance permission from, or registration with, the Copyright Office.
Form of Notice for Visually Perceptible Copies
The notice for visually perceptible copies should contain all the following three elements:
1. The symbol © (the letter C in a circle), or the word "Copyright," or the abbreviation
"Copr."; and
2. The year of first publication of the work. In the case of compilations or derivative
works incorporating previously published material, the year date of first publication of the
compilation or derivative work is sufficient. The year date may be omitted where a pictorial, graphic, or sculptural work, with accompanying textual matter, if any, is reproduced in or on greeting cards, postcards, stationery, jewelry, dolls, toys, or any useful article; and
3. The name of the owner of copyright in the work, or an abbreviation by which the name
can be recognized, or a generally known alternative designation of the owner.
Example: © 2002 John Doe
The "C in a circle" notice is used only on "visually perceptible copies." Certain kinds of
works--for example, musical, dramatic, and literary works--may be fixed not in "copies" but by means of sound in an audio recording. Since audio recordings such as audio tapes and phonograph disks are "phonorecords" and not "copies," the "C in a circle" notice is not used to indicate protection of the underlying musical, dramatic, or literary work that is recorded.
Form of Notice for Phonorecords of Sound Recordings*
* Sound recordings are defined in the law as "works that result from the fixation of a series
of musical, spoken, or other sounds, but not including the sounds accompanying a motion
picture or other audiovisual work." Common examples include recordings of music, drama,
or lectures. A sound recording is not the same as a phonorecord. A phonorecord is the
physical object in which works of authorship are embodied. The word "phonorecord"
includes cassette tapes, CDs, LPs, 45 r. p. m. disks, as well as other formats.
The notice for phonorecords embodying a sound recording should contain all the following
three elements:
1. The symbol (the letter P in a circle); and
2. The year of first publication of the sound recording; and
3. The name of the owner of copyright in the sound recording, or an abbreviation by which
the name can be recognized, or a generally known alternative designation of the owner. If
the producer of the sound recording is named on the phonorecord label or container and if
no other name appears in conjunction with the notice, the producer's name shall be
considered a part of the notice.
Example: 2002 A. B. C. Records Inc.
NOTE: Since questions may arise from the use of variant forms of the notice, you
may wish to seek legal advice before using any form of the notice other than those
given here.
Position of Notice
The copyright notice should be affixed to copies or phonorecords in such a way as to "give
reasonable notice of the claim of copyright." The three elements of the notice should
ordinarily appear together on the copies or phonorecords or on the phonorecord label or
container. The Copyright Office has issued regulations concerning the form and position of
the copyright notice in the Code of Federal Regulations (37 CFR Section 201.20). For more
information, request Circular 3, "Copyright Notice."

Publications Incorporating U. S. Government Works
Works by the U. S. Government are not eligible for U. S. copyright protection. For works
published on and after March 1, 1989, the previous notice requirement for works consisting
primarily of one or more U. S. Government works has been eliminated. However, use of a
notice on such a work will defeat a claim of innocent infringement as previously described
provided the notice also includes a statement that identifies either those portions of the work
in which copyright is claimed or those portions that constitute U. S. Government material.
Example: © 2002 Jane Brown. Copyright claimed in Chapters 7-10, exclusive of U. S.
Government maps
Copies of works published before March 1, 1989, that consist primarily of one or more
works of the U. S. Government should have a notice and the identifying statement.

Unpublished Works
The author or copyright owner may wish to place a copyright notice on any unpublished
copies or phonorecords that leave his or her control.
Example: Unpublished work © 2002 Jane Doe

Omission of the Notice and Errors in Notice
The 1976 Copyright Act attempted to ameliorate the strict consequences of failure to
include notice under prior law. It contained provisions that set out specific corrective steps
to cure omissions or certain errors in notice. Under these provisions, an applicant had 5
years after publication to cure omission of notice or certain errors. Although these
provisions are technically still in the law, their impact has been limited by the amendment
making notice optional for all works published on and after March 1, 1989. For further
information, request Circular 3, "Copyright Notice."

HOW LONG COPYRIGHT PROTECTION ENDURES
Works Originally Created on or after January 1, 1978
A work that is created (fixed in tangible form for the first time) on or after January 1, 1978,
is automatically protected from the moment of its creation and is ordinarily given a term
enduring for the author's life plus an additional 70 years after the author's death. In the case
of "a joint work prepared by two or more authors who did not work for hire," the term lasts
for 70 years after the last surviving author's death. For works made for hire, and for
anonymous and pseudonymous works (unless the author's identity is revealed in Copyright
Office records), the duration of copyright will be 95 years from publication or 120 years
from creation, whichever is shorter.
Works Originally Created before January 1, 1978, But Not Published or Registered by That Date
These works have been automatically brought under the statute and are now given federal
copyright protection. The duration of copyright in these works will generally be computed
in the same way as for works created on or after January 1, 1978: the life-plus-70 or 95/120-
year terms will apply to them as well. The law provides that in no case will the term of
copyright for works in this category expire before December 31, 2002, and for works
published on or before December 31, 2002, the term of copyright will not expire before
December 31, 2047.
Works Originally Created and Published or Registered before January 1, 1978
Under the law in effect before 1978, copyright was secured either on the date a work was
published with a copyright notice or on the date of registration if the work was registered in
unpublished form. In either case, the copyright endured for a first term of 28 years from the
date it was secured. During the last (28th) year of the first term, the copyright was eligible
for renewal. The Copyright Act of 1976 extended the renewal term from 28 to 47 years for
copyrights that were subsisting on January 1, 1978, or for pre-1978 copyrights restored
under the Uruguay Round Agreements Act (URAA), making these works eligible for a total
term of protection of 75 years. Public Law 105-298, enacted on October 27, 1998, further
extended the renewal term of copyrights still subsisting on that date by an additional 20
years, providing for a renewal term of 67 years and a total term of protection of 95 years.
Public Law 102-307, enacted on June 26, 1992, amended the 1976 Copyright Act to provide
for automatic renewal of the term of copyrights secured between January 1, 1964, and
December 31, 1977. Although the renewal term is automatically provided, the Copyright
Office does not issue a renewal certificate for these works unless a renewal application and
fee are received and registered in the Copyright Office.
Public Law 102-307 makes renewal registration optional. Thus, filing for renewal
registration is no longer required in order to extend the original 28-year copyright term to
the full 95 years. However, some benefits accrue from making a renewal registration during
the 28th year of the original term.
For more detailed information on renewal of copyright and the copyright term, request
Circular 15, "Renewal of Copyright"; Circular 15a, "Duration of Copyright"; and Circular
15t, "Extension of Copyright Terms."

TRANSFER OF COPYRIGHT
Any or all of the copyright owner's exclusive rights or any subdivision of those rights may
be transferred, but the transfer of exclusive rights is not valid unless that transfer is in
writing and signed by the owner of the rights conveyed or such owner's duly authorized
agent. Transfer of a right on a nonexclusive basis does not require a written agreement.
A copyright may also be conveyed by operation of law and may be bequeathed by will or
pass as personal property by the applicable laws of intestate succession.
Copyright is a personal property right, and it is subject to the various state laws and
regulations that govern the ownership, inheritance, or transfer of personal property as well
as terms of contracts or conduct of business. For information about relevant state laws,
consult an attorney.
Transfers of copyright are normally made by contract. The Copyright Office does not have
any forms for such transfers. The law does provide for the recordation in the Copyright
Office of transfers of copyright ownership. Although recordation is not required to make a
valid transfer between the parties, it does provide certain legal advantages and may be
required to validate the transfer as against third parties. For information on recordation of
transfers and other documents related to copyright, request Circular 12, "Recordation of
Transfers and Other Documents."

Termination of Transfers
Under the previous law, the copyright in a work reverted to the author, if living, or if the
author was not living, to other specified beneficiaries, provided a renewal claim was
registered in the 28th year of the original term.* The present law drops the renewal feature
except for works already in the first term of statutory protection when the present law took
effect. Instead, the present law permits termination of a grant of rights after 35 years under
certain conditions by serving written notice on the transferee within specified time limits.
*The copyright in works eligible for renewal on or after June 26, 1992, will vest in the name
of the renewal claimant on the effective date of any renewal registration made during the
28th year of the original term. Otherwise, the renewal copyright will vest in the party
entitled to claim renewal as of December 31st of the 28th year.
For works already under statutory copyright protection before 1978, the present law
provides a similar right of termination covering the newly added years that extended the
former maximum term of the copyright from 56 to 95 years. For further information, request
Circulars 15a and 15t.

INTERNATIONAL COPYRIGHT PROTECTION
There is no such thing as an "international copyright" that will automatically protect an
author's writings throughout the entire world. Protection against unauthorized use in a
particular country depends, basically, on the national laws of that country. However, most
countries do offer protection to foreign works under certain conditions, and these conditions
have been greatly simplified by international copyright treaties and conventions. For further
information and a list of countries that maintain copyright relations with the United States,
request Circular 38a, "International Copyright Relations of the United States."

COPYRIGHT REGISTRATION
In general, copyright registration is a legal formality intended to make a public record of the
basic facts of a particular copyright. However, registration is not a condition of copyright
protection. Even though registration is not a requirement for protection, the copyright law
provides several inducements or advantages to encourage copyright owners to make
registration. Among these advantages are the following:
•Registration establishes a public record of the copyright claim.
•Before an infringement suit may be filed in court, registration is necessary for works
of U. S. origin.
•If made before or within 5 years of publication, registration will establish prima facie
evidence in court of the validity of the copyright and of the facts stated in the
certificate.
•If registration is made within 3 months after publication of the work or prior to an
infringement of the work, statutory damages and attorney's fees will be available to
the copyright owner in court actions. Otherwise, only an award of actual damages
and profits is available to the copyright owner.
•Registration allows the owner of the copyright to record the registration with the U.
S. Customs Service for protection against the importation of infringing copies. For
additional information, request Publication No. 563 "How to Protect Your
Intellectual Property Right," from: U.S. Customs Service, P.O. Box 7404,
Washington, D.C. 20044. See the U.S. Customs Service Website at
www.customs.gov for online publications.
Registration may be made at any time within the life of the copyright. Unlike the law before
1978, when a work has been registered in unpublished form, it is not necessary to make
another registration when the work becomes published, although the copyright owner may
register the published edition, if desired.

REGISTRATION PROCEDURES
Original Registration
To register a work, send the following three elements in the same envelope or package to:
Library of Congress
Copyright Office
101 Independence Avenue, S.E.
Washington, D.C. 20559-6000
1. A properly completed application form.
2. A nonrefundable filing fee of $30 for each application.
NOTE: Copyright Office fees are subject to change. For current fees, please
check the Copyright Office Website at www.copyright.gov, write the Copyright
Office, or call (202) 707-3000.
3.
4.A nonreturnable deposit of the work being registered. The deposit requirements vary
in particular situations. The general requirements follow. Also note the information
under "Special Deposit Requirements."
•If the work was first published in the United States on or after January 1, 1978, two
complete copies or phonorecords of the best edition.
•If the work was first published in the United States before January 1, 1978, two
complete copies or phonorecords of the work as first published.
•If the work was first published outside the United States, one complete copy or
phonorecord of the work as first published.
•If sending multiple works, all applications, deposits, and fees should be sent in the
same package. If possible, applications should be attached to the appropriate deposit.
Whenever possible, number each package (e. g., 1 of 3, 2 of 4) to facilitate
processing.

What Happens if the Three Elements Are Not Received Together
Applications and fees received without appropriate copies, phonorecords, or identifying
material will not be processed and ordinarily will be returned. Unpublished deposits without
applications or fees ordinarily will be returned, also. In most cases, published deposits
received without applications and fees can be immediately transferred to the collections of
the Library of Congress. This practice is in accordance with section 408 of the law, which
provides that the published deposit required for the collections of the Library of Congress
may be used for registration only if the deposit is "accompanied by the prescribed
application and fee...."
After the deposit is received and transferred to another service unit of the Library for its
collections or other disposition, it is no longer available to the Copyright Office. If you wish
to register the work, you must deposit additional copies or phonorecords with your
application and fee.
Renewal Registration
To register a renewal, send:
1. A properly completed application Form RE and, if necessary, Form RE Addendum,
and
2. A nonrefundable filing fee of $60 without Addendum; $90 with Addendum for each
application. (See Note above.) Each Addendum form must be accompanied by a
deposit representing the work being reviewed. See Circular 15, "Renewal of
Copyright."

NOTE: Complete the application form using black ink pen or type. You may
photocopy blank application forms. However, photocopied forms submitted to the
Copyright Office must be clear, legible, on a good grade of 8-1/2-inch by 11-inch
white paper suitable for automatic feeding through a photocopier. The forms
should be printed, preferably in black ink, head-to-head so that when you turn the
sheet over, the top of page 2 is directly behind the top of page 1. Forms not
meeting these requirements may be returned resulting in delayed
registration.
Special Deposit Requirements
Special deposit requirements exist for many types of works. The following are prominent
examples of exceptions to the general deposit requirements:
•If the work is a motion picture, the deposit requirement is one complete copy of the
unpublished or published motion picture and a separate written description of its
contents, such as a continuity, press book, or synopsis.
•If the work is a literary, dramatic, or musical work published only in a
phonorecord, the deposit requirement is one complete phonorecord.
•If the work is an unpublished or published computer program, the deposit
requirement is one visually perceptible copy in source code of the first 25 and last
25 pages of the program. For a program of fewer than 50 pages, the deposit is a copy
of the entire program. For more information on computer program registration,
including deposits for revised programs and provisions for trade secrets, request
Circular 61, "Copyright Registration for Computer Programs."
•If the work is in a CD-ROM format, the deposit requirement is one complete copy of
the material, that is, the CD-ROM, the operating software, and any manual(s)
accompanying it. If registration is sought for the computer program on the CD-ROM,
the deposit should also include a printout of the first 25 and last 25 pages of source
code for the program.
In the case of works reproduced in three-dimensional copies, identifying material such as
photographs or drawings is ordinarily required. Other examples of special deposit
requirements (but by no means an exhaustive list) include many works of the visual arts
such as greeting cards, toys, fabrics, oversized materials (request Circular 40a, "Deposit
Requirements for Registration of Claims to Copyright in Visual Arts Material"); video
games and other machine-readable audiovisual works (request Circular 61); automated
databases (request Circular 65, "Copyright Registration for Automated Databases"); and
contributions to collective works. For information about deposit requirements for group
registration of serials, request Circular 62, "Copyright Registration for Serials."
If you are unsure of the deposit requirement for your work, write or call the Copyright
Office and describe the work you wish to register.

Unpublished Collections
Under the following conditions, a work may be registered in unpublished form as a
"collection," with one application form and one fee:
•The elements of the collection are assembled in an orderly form;
•The combined elements bear a single title identifying the collection as a whole;
•The copyright claimant in all the elements and in the collection as a whole is the
same; and
•All the elements are by the same author, or, if they are by different authors, at least
one of the authors has contributed copyrightable authorship to each element.
An unpublished collection is not indexed under the individual titles of the contents but
under the title of the collection.
NOTE: A Library of Congress Control Number is different from a copyright
registration number. The Cataloging in Publication (CIP) Division of the Library
of Congress is responsible for assigning LC Control Numbers and is operationally
separate from the Copyright Office. A book may be registered in or deposited with
the Copyright Office but not necessarily cataloged and added to the Library's
collections. For information about obtaining an LC Control Number, see the
following homepage: http://pcn.loc.gov. For information on International Standard
Book Numbering (ISBN), write to: ISBN, R. R. Bowker, 630 Central Ave., New
Providence, NJ 07974. Call (877) 310-7333. For further information and to apply
online, see www.isbn.org. For information on International Standard Serial
Numbering (ISSN), write to: Library of Congress, National Serials Data Program,
Serial Record Division, Washington, D.C. 20540-4160. Call (202) 707-6452. Or
obtain information from www.loc.gov/issn.

EFFECTIVE DATE OF REGISTRATION
A copyright registration is effective on the date the Copyright Office receives all the
required elements in acceptable form, regardless of how long it then takes to process the
application and mail the certificate of registration. The time the Copyright Office requires to
process an application varies, depending on the amount of material the Office is receiving.
If you apply for copyright registration, you will not receive an acknowledgment that your
application has been received (the Office receives more than 600,000 applications annually),
but you can expect:
•A letter or a telephone call from a Copyright Office staff member if further
information is needed or
•A certificate of registration indicating that the work has been registered, or if the
application cannot be accepted, a letter explaining why it has been rejected.
Requests to have certificates available for pickup in the Public Information Office or to have certificates sent by Federal Express or another mail service cannot be honored.
If you want to know the date that the Copyright Office receives your material, send it by
registered or certified mail and request a return receipt.

CORRECTIONS AND AMPLIFICATIONS OF EXISTING REGISTRATIONS
To correct an error in a copyright registration or to amplify the information given in a
registration, file a supplementary registration form--Form CA-- with the Copyright Office.
The filing fee is $100. (See Note above.) The information in a supplementary registration
augments but does not supersede that contained in the earlier registration. Note also that a
supplementary registration is not a substitute for an original registration, for a renewal
registration, or for recording a transfer of ownership. For further information about
supplementary registration, request Circular 8, "Supplementary Copyright Registration."

MANDATORY DEPOSIT FOR WORKS PUBLISHED IN THE UNITED STATES
Although a copyright registration is not required, the Copyright Act establishes a mandatory
deposit requirement for works published in the United States. See the definition of
"publication." In general, the owner of copyright or the owner of the exclusive right of
publication in the work has a legal obligation to deposit in the Copyright Office, within 3
months of publication in the United States, two copies (or in the case of sound recordings,
two phonorecords) for the use of the Library of Congress. Failure to make the deposit can
result in fines and other penalties but does not affect copyright protection.
Certain categories of works are exempt entirely from the mandatory deposit requirements,
and the obligation is reduced for certain other categories. For further information about
mandatory deposit, request Circular 7d, "Mandatory Deposit of Copies or Phonorecords for
the Library of Congress."

USE OF MANDATORY DEPOSIT TO SATISFY REGISTRATION
REQUIREMENTS
For works published in the United States, the copyright law contains a provision under
which a single deposit can be made to satisfy both the deposit requirements for the Library
and the registration requirements. In order to have this dual effect, the copies or
phonorecords must be accompanied by the prescribed application form and filing fee.

WHO MAY FILE AN APPLICATION FORM?
The following persons are legally entitled to submit an application form:
•The author. This is either the person who actually created the work or, if the work
was made for hire, the employer or other person for whom the work was prepared.
•The copyright claimant. The copyright claimant is defined in Copyright Office
regulations as either the author of the work or a person or organization that has
obtained ownership of all the rights under the copyright initially belonging to the
author. This category includes a person or organization who has obtained by contract
the right to claim legal title to the copyright in an application for copyright
registration.
•The owner of exclusive right(s). Under the law, any of the exclusive rights that
make up a copyright and any subdivision of them can be transferred and owned
separately, even though the transfer may be limited in time or place of effect. The
term "copyright owner" with respect to any one of the exclusive rights contained in a
copyright refers to the owner of that particular right. Any owner of an exclusive right
may apply for registration of a claim in the work.
•The duly authorized agent of such author, other copyright claimant, or owner of
exclusive right(s). Any person authorized to act on behalf of the author, other
copyright claimant, or owner of exclusive rights may apply for registration.
There is no requirement that applications be prepared or filed by an attorney.

APPLICATION FORMS
For Original Registration
Form PA:
for published and unpublished works of the performing arts
(musical and dramatic works, pantomimes and choreographic
works, motion pictures and other audiovisual works)
Form SE: for serials, works issued or intended to be issued in successive
parts bearing numerical or chronological designations and
intended to be continued indefinitely (periodicals, newspapers,
magazines, newsletters, annuals, journals, etc.)
Form SR: for published and unpublished sound recordings
Form TX: for published and unpublished nondramatic literary works
Form VA: for published and unpublished works of the visual arts
(pictorial, graphic, and sculptural works, including
architectural works)
Form G/DN: a specialized form to register a complete month's issues of a
daily newspaper when certain conditions are met
Short Form/SE
and Form
SE/GROUP:
specialized SE forms for use when certain requirements are met
Short Forms TX,
PA, and VA:
short versions of applications for original registration. For
further information about using the short forms, request
publication SL-7.
Form GATT and
Form
GATT/GRP:
specialized forms to register a claim in a work or group of
related works in which U. S. copyright was restored under the
1994 Uruguay Round Agreements Act (URAA). For further
information, request Circular 38b.
For Renewal Registration
Form RE: for claims to renew copyright in works copyrighted under the law
in effect through December 31, 1977 (1909 Copyright Act) and
registered during the initial 28-year copyright term
Form RE
Addendum:
accompanies Form RE for claims to renew copyright in works
copyrighted under the 1909 Copyright Act but never registered
during their initial 28-year copyright term
For Corrections and Amplifications
Form
CA:
for supplementary registration to correct or amplify information given
in the Copyright Office record of an earlier registration
For a Group of Contributions to Periodicals
Form
GR/CP:
an adjunct application to be used for registration of a group of
contributions to periodicals in addition to an application Form TX, PA,
or VA
How to Obtain Application Forms
See "For Further Information."
You must have Adobe Acrobat Reader ® installed on your computer to view and print the
forms accessed on the Internet. Adobe Acrobat Reader may be downloaded free from
Adobe Systems Incorporated through links from the same Internet site from which the forms
are available.
Print forms head to head (top of page 2 is directly behind the top of page 1) on a single
piece of good quality, 8-1/2-inch by 11-inch white paper. To achieve the best quality copies
of the application forms, use a laser printer.

FILL-IN FORMS AVAILABLE
All Copyright Office forms are available on the Copyright Office Website in fill-in version.
Go to www.copyright.gov/forms and follow the instructions. The fill-in forms allow you to
enter information while the form is displayed on the screen by an Adobe Acrobat Reader
product. You may then print the completed form and mail it to the Copyright Office. Fill-in
forms provide a clean, sharp printout for your records and for filing with the Copyright
Office.
FEES
All remittances should be in the form of drafts, that is, checks, money orders, or bank drafts,
payable to: Register of Copyrights. Do not send cash. Drafts must be redeemable without
service or exchange fee through a U. S. institution, must be payable in U. S. dollars, and
must be imprinted with American Banking Association routing numbers. International
Money Orders and Postal Money Orders that are negotiable only at a post office are not
acceptable.
If a check received in payment of the filing fee is returned to the Copyright Office as
uncollectible, the Copyright Office will cancel the registration and will notify the remitter.
The filing fee for processing an original, supplementary, or renewal claim is nonrefundable,
whether or not copyright registration is ultimately made.
Do not send cash. The Copyright Office cannot assume any responsibility for the loss of
currency sent in payment of copyright fees. For further information, request Circular 4,
"Copyright Fees."
Certain Fees and Services May Be Charged to a Credit Card
Some fees may be charged by telephone and in person in the office. Others may only be
charged in person in the office. Credit card payments are generally authorized only for
services that do not require filing of applications or other materials. An exception is made
for fees related to items that are hand-carried into the Public Information Office.
Certifications and Documents Section: These fees may be charged in person in the office
or by phone: additional certificates; copies of documents and deposits; searching, locating
and retrieving deposits; certifications; and expedited processing.
Public Information Office: These fees may only be charged in person in the office, not by
phone: standard registration request forms; special handling requests for all standard
registration requests; requests for services provided by the Certifications and Documents
Section when the request is accompanied by a request for special handling; search requests
for which a fee estimate has been provided; additional fee for each claim using the same
deposit; full term retention fees; appeal fees; Secure Test processing fee; short fee payments
when accompanied by a Remittance Due Notice; in-process retrieval fees; and online
service providers fees.
Reference and Bibliography Section: Requests for searches on a regular or expedited
basis can be charged to a credit card by phone.
Records Maintenance Unit: Computer time on COINS, printing from the Optical Disk,
and photocopying can be charged in person in the office.
Fiscal Control Section: Deposit Accounts maintained by the Fiscal Control Section may be
replenished by credit card. See Circular 5, "How to Open and Maintain a Deposit Account
in the Copyright Office."
NIE recordations and claims filed on Forms GATT and GATT/GRP may be paid by credit
card if the card number is included in a separate letter that accompanies the form.

anjostran
sưu tầm

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

Sách điện tử : Cuộc đại cách mạng về văn hóa đọc

(TT&VH) - Kể từ khi kỹ thuật nghe nhìn, nhất là truyền hình và phim ảnh, phát triển mạnh mẽ thì văn hóa đọc đã trở nên yếu thế. Trước tình hình này, các nhà khoa học đã tìm cách làm cho văn hóa đọc không bị mai một, với việc phát minh ra sách điện tử.

Thu gọn cả thư viện vào trong sách điện tử
Lúc đầu, các nhà khoa học đưa những cuốn sách vào trong máy tính cá nhân (PC) của mọi người để họ có thể đọc khi rảnh rỗi. Tuy nhiên, điều bất tiện là khi rời khỏi máy tính thì việc đọc sách sẽ bị gián đoạn.
Vì vậy, năm 2007, công ty bán lẻ trực tuyến Amazon đã cho ra đời công cụ chuyên dụng gọi là sách điện tử có tên Kindle. Tuy có kích cỡ không lớn, chỉ bằng một quyển sách, mang theo người rất thuận tiện, nhưng Kindle có thể lưu trữ được hàng trăm cuốn sách, tờ báo theo sở thích của từng người. Đây có thể xem là một cuộc đại cách mạng về văn hóa đọc.

Công ty Amazon cho biết tính tới cuối tháng 12/2009, họ đã bán ra hơn 3 triệu sách điện tử Kindle. Ngay ngày 26/12/2009 sau lễ Noel, lần đầu tiên sách điện tử Kindle đã bán ra với số lượng lớn hơn so với sách xuất bản truyền thống bằng giấy.
Tiếp theo Amazon, các công ty Sony, Fuji, Google, Apple cũng lao vào sản xuất và cho ra đời sách điện tử ngày một hiện đại hơn. Trong Hội chợ sách thế giới 2009 được tổ chức tại Frankfurt (Đức), hơn 40% công ty đều quảng cáo rao bán các loại sách điện tử kiểu mới, vừa có lượng lưu trữ lớn, vừa không làm tổn hại mắt người đọc. Giờ đây, một quyển sách điện tử chỉ bằng chiếc máy điện thoại di động có thể chứa được hàng trăm đầu sách, báo. Ngoài ra, người sử dụng có thể mua thêm những cuốn sách, tờ báo mới từ trên mạng.
Dự kiến 10 năm tới đây, sách điện tử có thể thu gọn cả một thư viện với 600.000 cuốn sách vào trong máy. Bên cạnh đó, các tính năng của nó cũng ngày càng được cải tiến.
Một cách tiết kiệm ngân sách
Thái Luân, người Trung Quốc đầu tiên phát minh ra giấy viết trên thế giới, nếu còn sống ắt phải kinh ngạc trước sự tiến bộ của kỹ thuật. Sách điện tử ngày nay chỉ cần “một tờ giấy” điện tử nhỏ nhưng có thể chứa được cả kho sách đồ sộ.
Năm 2009, Trung Quốc đã tiêu thụ 693.000 sách điện tử và dự kiến năm nay con số này sẽ là 2,1 triệu. Vụ Xuất bản kỹ thuật số Trung Quốc dự báo thị trường sách điện tử năm 2010 của nước này có thể lên tới 75 tỷ NDT (hơn 10 tỷ USD).
Hàng năm, mỗi học sinh phổ thông ở Trung Quốc được chính phủ trợ cấp 1.600 NDT để mua sách giáo khoa, trong khi giá sách điện tử hiện nay thấp hơn mức đó. Bởi vậy, nếu như trang bị sách giáo khoa điện tử cho học sinh phổ thông thì sẽ tiết kiệm được ngân sách và giải tỏa “chiếc ba lô sách” nặng nề trên lưng các em.

Sưu tầm

Thư viện Việt Nam: Cần nhiều hơn sự kết nối


Trong bối cảnh phát triển quá nhanh của các phương tiện kỹ thuật số thời đại internet toàn cầu, các nhà lý thuyết “cực đoan” đã vội sớm đưa ra kết luận về sự cáo chung của hệ thống thư viện. Nhưng trên thực tế mọi việc đã không diễn ra như vậy.

Ngay cả tại những quốc gia văn minh, giàu có như Hoa Kỳ với lượng lớn máy tính cá nhân - gia đình dễ dàng truy cập vào các trang web điện tử trực tuyến từ các thư viện, hoặc cho dù chính thư viện quốc hội Hoa Kỳ là nơi chủ xướng cho ý tưởng thư viện điện tử toàn cầu và được nhiều quốc gia hưởng ứng, thì lượng độc giả tới thư viện vẫn gia tăng thông qua lượng thẻ phát hành hằng năm (wikipedia).

Tuy thời đại máy tính cá nhân xách tay và internet không dây không làm cáo chung hệ thống thư viện truyền thống nhưng cũng đã làm thay đổi hoàn toàn cái nhìn về thư viện theo những thói quen truyền thống lâu nay.

Thay đổi để tồn tại

Từ gốc của “thư viện” theo ngôn ngữ Hy Lạp và Trung Hoa xưa đều có nghĩa là nơi cất giữ và bảo quản sách. Và lâu nay theo cái nhìn thông thường ở Việt Nam , thư viện là nơi cho mượn sách để đọc (tại chỗ, hoặc mang về nhà). Chính từ thực tế đơn giản đó mà nhiều người nghĩ nghề coi thư viện giống như… ông từ coi đền. Và nếu có ai đó tò mò lên trang Google Việt Nam gõ vào cụm từ “vui buồn nghề” rồi nhấn enter, máy sẽ nhả ra kết quả khoảng…hơn một triệu trường hợp vui buồn của mọi nghề, nhưng tìm đỏ con mắt cũng không hề thấy trường hợp vui buồn của… nghề thư viện. Coi bộ nghề thư viện ở xứ ta khá đìu hiu và phẳng lặng... Chưa hết, khi thấy tôi có vẻ quan tâm tìm hiểu xem mọi người nghĩ gì về thư viện, có người bạn của tôi kêu lên đầy ngạc nhiên: “Hả, thời buổi này mà còn có người tới thư viện à? Tưởng ba cái thư viện đó dẹp lâu rồi chứ ?!”.

Thư viện không chết và cũng không bị “dẹp”, mà thư viện chỉ thay đổi để tồn tại, sống và vươn lên phục vụ cho tiện ích của cộng đồng và xã hội. Thư viện ngày nay không thể bị coi như là một “kho sách” thậm chí còn bị coi là “kho ve chai” – vì toàn sách cũ, mà thư viện ngày nay được khẳng định là nguồn tài nguyên và nếu được khai thác đúng mức, nguồn tài nguyên này cung cấp nguồn năng lượng thiết yếu làm tăng trưởng tri thức của độc giả, góp phần thăng tiến xã hội một cách toàn diện. Do vậy, một chuyên gia trong ngành thư viện nhận định: “Trước sự bùng nổ thông tin toàn cầu như hiện nay, các thủ thư có các kỹ năng tìm kiếm đánh giá nguồn tài nguyên và liên kết các nguồn đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết”. Do vậy, quan niệm làm thủ thư như làm ông từ giữ đền, hưởng nhàn là một quan niệm không còn đất sống.

Nếu độc giả của thư viện truyền thống tới thư viện hỏi mượn cuốn sách A hoặc B, người thủ thư chỉ việc kiểm trong danh mục nếu có sẽ tiến hành thủ tục cho độc giả mượn và như vậy là kết thúc một “quy trình” lặp đi lặp một cách tẻ nhạt. Nhưng với thư viện thời nay, độc giả (giả định) không tới hỏi về cuốn sách A hoặc B mà tới hỏi người thủ thư về một đề tài nào đó, chẳng hạn đơn giản là cách chăm sóc hoa mai để nở đúng dịp Tết, hoặc một trào lưu mới của âm nhạc đương đại hay thuyết “hố đen” gì đó của vũ trụ... thì người thủ thư phải là người hướng dẫn cho độc giả nên đọc những cuốn sách nào hoặc truy cập vào trang web nào để tải thông tin. Như vậy, người thủ thư trong vai trò của người “cho mượn sách” đã chết, thay vào đó, người thủ thư sẽ đóng vai trò người hướng dẫn, người tiếp sức.

Thư viện Việt Nam : Cần nhiều hơn sự kết nối

Dĩ nhiên trong bối cảnh Việt Nam mà đa phần người dân còn sống ở vùng thôn quê, việc sử dụng internet chưa phổ biến thì việc đưa ra hình ảnh người thủ thư hơi “lý tưởng” như trên có vẻ… xa vời. Tuy nhiên trong thế giới văn minh kỹ thuật số ngày nay, hình ảnh người thủ thư - người hướng dẫn khoa học không còn là hình ảnh “lý tưởng” nữa, mà đã là hình ảnh thực tế - đương nhiên phải vậy!

Ở Việt Nam hiện nay có lẽ tốt nhất nên kết hợp thư viện theo lối truyền thống, đồng thời xây dựng thư viện theo xu hướng mà các quốc gia phát triển đã làm. Việc kết nối internet giữa thư viện trung tâm (quốc gia) với các thư viện cơ sở tại các vùng xa xôi, hẻo lánh đồng thời kết hợp thư viện trên các chuyến xe lưu động, cùng với dịch vụ chuyển phát nhanh của bưu điện sẽ xóa dần khoảng cách về việc tiếp cận nguồn sách và tri thức giữa các vùng thôn quê và thành thị.

Điều đáng nói ở đây là tất cả các dịch vụ thư viện trên đều hoàn toàn miễn phí, trừ phí bưu điện. Tập trung đầu tư cho các thư viện theo lối “mở” cả về thư viện điện tử lẫn thư viện theo lối “sách trao tay” vẫn là quốc sách của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới theo đuổi mục tiêu “giáo dục suốt đời” cho công dân của mình để hướng tới một xã hội phát triển, giàu tri thức.

Trên các giao lộ thông tin của những ngã đường giáo dục (giáo dục cũng được hiểu như là một cách truyền đạt thông tin) thì thư viện cùng với các trường học được ví như các đền đài tỏa ánh sáng lung linh xuống tâm trí con người trong đời sống thường nhật còn đầy xô bồ, bóng tối và hỗn độn. Như vậy, theo một nghĩa rạch ròi, thư viện còn hơn là một phần thiết yếu của đời sống !!!

Theo TN

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

"Tôi vẫn thích đọc sách in...”



"Tôi vẫn thích đọc sách in...”

“Dù ngày nào tôi cũng vào mạng Internet, nhưng tôi vẫn chỉ thích đọc sách in bằng giấy hơn...”. Nhà văn Nam Phi J. M. Coetzee đã nói như vậy vì sách in vẫn là sản phẩm trí tuệ tuyệt vời nhất của nhân loại và nó vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong mọi nền văn hóa đọc trên khắp thế giới.

1. “Dù ngày nào tôi cũng vào mạng Internet, nhưng tôi vẫn chỉ thích đọc sách in bằng giấy hơn...”. Với chiếc máy tính xách tay bên mình, nhà văn Nam Phi J. M. Coetzee có lần đã nói như vậy với đám đông sinh viên Trường đại học San Jose (bang Illinois, Mỹ).

Sở dĩ Coetzee đưa ra một tâm sự như thế vì cũng vào thời gian ông đoạt giải Nobel Văn học 2003, American Online đã đưa ra một con số điều tra rất thú vị trên mạng trực tuyến của mình. Khi được hỏi “Bạn cần gì nhất nếu một mình sống trên hoang đảo?” thì có tới 68% thanh thiếu niên trả lời rằng họ cần một máy vi tính nối mạng, 23% cần máy điện thoại, chỉ có 9% còn lại là cần ti vi để xem thôi!

Như vậy là Internet đã hạ “knock-out” các phương tiện truyền thông khác một cách vô cùng ngoạn mục (!) Số người nghiền vi tính thì lập luận rằng, họ chẳng hề xa lánh báo chí sách vở tí nào. Bởi lẽ, qua mạng thì họ có thể đọc đủ mọi báo chí trên đời này ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Cả sách cũng thế. Với 1,5 tỉ website (trang chủ, trang tự giới thiệu...) hiện nay, trong đó hầu hết các NXB lớn trên thế giới đều có một website riêng với kho dữ liệu ( data house ) khổng lồ thì sách của họ cũng có đủ loại, chẳng thiếu thứ gì, chỉ sợ bạn không đủ thời gian để đọc cho hết mà thôi.

2. Quả thật, điều này đúng như thế. Và còn hơn thế nữa... Ngay ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hay nhiều thành phố lớn ở Việt Nam ta, đã có rất nhiều người bây giờ thay đổi hẳn cách đọc của mình. Cách đọc sách (in bằng nguyên liệu giấy) đã tồn tại như một thói quen rất thân thuộc từ bao đời nay đang có nguy cơ bị mai một.

… Một cô thư kí trẻ đẹp, yểu điệu cắp cặp tài liệu về phòng riêng của mình rất đúng giờ. Đúng giờ có nghĩa là còn sớm so với mọi người, vì cứ phải 15-20 phút nữa, sếp và các nhân viên khác mới lục tục dắt xe đến. Họ còn khề khà dọn dẹp, gọi điện thoại, đun nước pha trà, trò chuyện tào lao chán mới bắt đầu công việc hàng ngày. Riêng nữ thư kí “tóc nâu môi trầm” thì đã mở máy với màn hình xanh dịu trước mặt. Và ung dung vừa điểm tâm vừa vào mạng và mở màn cuộc hành trình “vòng quanh thế giới”: điểm tin nổi bật trên các báo, ngó qua các shop thời trang mua sắm đủ loại. Tất nhiên cô cũng không quên tìm vài quyển sách thuộc loại “tân kì” mà bạn bè đang thì thào kháo nhau…

Cuối cùng, cô vào một “nhà hàng” music của MTV. Chọn một giọng ca đang ăn khách nhất với bài tủ nhất, cô nhẹ nhàng nhấn chuột và tiếng nhạc lập tức vang lên ngân nga thánh thót khắp căn phòng. Ai đi qua nhìn vào lại bảo cô ngồi chơi nào? Ít ai biết rằng “nàng” vừa thư giãn buổi sáng xong. Thư giãn chơi chơi thế thôi vậy mà nhìn lên đồng hồ đã quá nửa buổi. Văn minh hiện đại phải là thế chứ! Tội gì mua báo, mua sách về làm gì? Vừa tốn tiền vừa chậm… như rùa. Bây giờ mà còn thế thì quả là “tẩm” quá ! Thanh niên thế hệ A còng @ phải tân kì như thế mới oách !

3. Tôi cũng đã từng vào mạng và cũng đã từng hoa mắt bởi một rừng ngữ liệu đủ loại vun vút chạy qua trên màn hình. Nếu bạn tìm đọc một cuốn từ điển bách khoa như Larousse , hay Weste ' s hay Britanica chẳng hạn (khoảng vài vạn trang), bạn sẽ có cảm giác như đang lênh đênh trên một đại dương không bờ. “Bơi” mãi mà vẫn chỉ thấy bạt ngàn chữ, bạt ngàn tranh ảnh. Cái nào cũng đẹp mê hồn (nhiều minh hoạ được thể hiện bằng video-clip sống động như xem phim vậy).

Và bắt chước cô thư kí nọ, tôi cũng down-load vài chục trang và in ra cho vào ca-táp. Tiện thật đấy. Không cần ra phố, không vào hiệu sách hay thư viện, mất thời gian gửi xe, mất thời gian lục tìm. Kinh tế nhất là không tốn bao nhiêu tiền, vì sách bây giờ đâu có rẻ? Một bộ sách quý đã có thể “xơi” gọn ghẽ cả tháng lương. Chỉ từ phòng ngủ “êm như nhung” của nhà mình là người ta có thể đọc cả thế giới. Một đĩa CD đã đủ sức mang trong mình biết bao tri thức, đưa đi đâu cũng được, không khác gì một “thư viện” di động. Người ta còn đăng kí học qua mạng. Nghe giảng, trả thi, seminar qua mạng. Và nếu cần, bạn cũng có thể nhận chứng chỉ qua mạng. Thật tuyệt vời!

4. Song, một nền văn hoá đọc ẩn chìm trong lòng nhân loại mấy chục thế kỉ đâu có dễ dàng thay thế bằng một màn hình sáng xanh tắt mở? Công nghệ tin học quả là một cuộc cách mạng vĩ đại, một sự biến đổi thần kì của trí tuệ con người. Tuy nhiên, xét cho cùng, tin học cũng chỉ là một công cụ phục vụ đắc lực cho việc truyền thụ tri thức. Việc lưu giữ “tường minh” nhất, hiển hiện nhất, vẫn phải là văn bản. Sự định dạng bằng văn tự giúp người ta lĩnh hội tri thức một cách bài bản và hệ thống: vừa rộng, vừa sâu, vừa chắc chắn.

Đọc sách là một sự cảm nhận bằng mắt. Qua trực giác, con người chuyển tín hiệu vào trí não và ở đây diễn ra một quá trình xử lí hết sức tinh tế. Một bộ phim dù hay đến mấy cũng không thấm sâu bằng cuốn tiểu thuyết cùng tên. Ngữ nghĩa của con chữ hàm súc hơn nhiều.

Đọc sách cho ta thời gian nhẩn nha lựa chọn, suy ngẫm cân nhắc nhiều điều. Có lúc, ta còn phải lật đi lật lại xem kĩ. Những con chữ in rõ ràng trong sách như có hồn vậy. Nó hằn sâu trong tâm tưởng mỗi người và như vậy bao giờ cũng gây ấn tượng hơn con chữ nằm trong máy. Và dù có in ra từ máy văn phòng thì nó vẫn mang dáng dấp là văn bản “tạm thời”, như một bản “nhái”, photocopy, chứ không phải là văn bản xịn , tức là chưa qua công nghệ in offset, đóng xén vào bìa cẩn thận.

Hơn nữa, tri thức trong máy thường mang tính phục vụ nhất thời. Thông tin trong máy phải đáp ứng nhu cầu thực tại, phải cập nhật nhanh. Vì vậy, độ chuẩn xác của những thông tin đó nhiều khi không hẳn đã đảm bảo. Có khi, vì chạy theo thị hiếu “câu khách” mà có rất nhiều tin thiếu chuẩn xác, thậm chí sai lệch hoàn toàn. Các món “mì ăn liền” - fast food - đáp ứng được nhu cầu ăn nhanh, nhưng muốn có một món thật ngon, cầu kì cẩn thận, hấp dẫn thì phải mất công phu chế biến. Dĩ nhiên, không hẳn là tất cả các văn bản lấy từ máy ra đều là thế. Nhiều tờ báo, nhiều cuốn từ điển đã in ra cũng được nạp nguyên văn (cả văn bản và ma-ket) vào máy mà. Nhưng, dù sao cầm một cuốn sách (nhất là từ điển) chắc nặng, bìa cứng, in trên giấy đẹp với nhiều hình ảnh minh hoạ, vẫn tạo cho người sử dụng cảm giác tự tin hơn.

Trong thời đại internet là "thống soái", vẫn có biết bao người yêu sách.



Có những cuốn sách đã được lưu truyền qua hết thế hệ này sang thế hế hệ khác. Và cũng như một thứ “đồ cổ” vậy, sách để lâu càng hiếm, càng quý, càng có giá trị rất nhiều mặt. Giá trị của những trích dẫn trong sách in vẫn tin cậy hơn trích dẫn từ mạng. Trên mạng, do bộ nhớ lưu trữ có hạn, chỉ trong một thời gian nhất định thì người ta bắt buộc phải xoá bớt thông tin trên server (máy chủ) để cập nhật thông tin mới. Trích dẫn từ mạng lúc đó sẽ lấy cái gì làm bằng cớ đây? Có chăng, máy sẽ giúp người “gọi” thông tin kịp thời. Vì cũng một việc tra từ thì nếu gõ vài kí tự rồi nhấn enter sẽ dễ và nhanh hơn nhiều việc “lặn lội” truy tìm từ đó trong một bộ từ điển, có khi dài đến vài chục tập.

5. Vì vậy, những người có nhu cầu đọc thực sự vẫn thích đọc sách in bằng giấy. Văn hoá đọc vẫn có những ưu thế so với văn hoá nghe nhìn, dù rằng công nghệ nghe nhìn rất tiện lợi và phù hợp với nhịp sống hối hả hiện nay.

V. I. Lênin từng nói: “Đọc cũng là một nghệ thuật”. Đúng như vậy, muốn đọc, thích đọc người ta phải có vốn hiểu biết và vốn sống. Và những con chữ bao giờ cũng giúp cho người đọc mở rộng trí tưởng tượng rồi qua đó mà tâm hồn mỗi chúng ta thêm phong phú, sâu sắc hơn rất nhiều. Đọc sách giúp ta có một “độ lùi” cần thiết để chiêm nghiệm. Thực tế, có những cuốn sách ta không chỉ đọc một lần mà phải đọc cả đời người, qua mỗi một thời kì, ta lại lĩnh hội từ cuốn sách tưởng là cũ kia những “thông điệp” mới. Vì chính nhận thức, kinh nghiệm của ta đã “mới hoá” những tri thức từ cuốn sách ấy. Và đọc qua màn hình cũng chỉ là một hình thức phụ trợ, đáp ứng nhu cầu “ăn ngay” của ta mà thôi.

Do việc cập nhật và phổ biến quá dễ nên gần như ai nắm được kĩ năng tin học tốt cũng dễ dàng mở một website riêng và “ném” vào đó đủ thứ mình có. Vì vậy sách in vẫn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường văn hoá phẩm, ngay cả với những nước có công nghệ tin học cao của thế giới, như Anh, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc,... Từ điển Larousse (Pháp) vẫn đều đặn tái bản hàng năm với vài vạn bản một kì. Và cùng với sách, bạn vẫn có thể mua kèm đĩa CD để có thể tận dụng khai thác tối đa tính năng tra cứu. Ta còn nhớ những năm vừa rồi, bao nhiêu người phải xếp hàng rồng rắn để mua cho bằng được bộ Harry Potter (bộ sách truyện thiếu nhi của nhà văn J. K. Rowling) mới phát hành. Cách đây vài năm, người dân Đan Mạch và cả thế giới vừa kỉ niệm 200 năm sinh của nhà văn nổi tiếng H. C. Andersen (2.4.1805 - 2.4.2005) mà những cuốn truyện cổ tích “hay tới mức kì lạ” của ông đã được dịch và in gần như bằng tất cả mọi thứ tiếng trên thế giới. Sách in vẫn là sản phẩm trí tuệ tuyệt vời nhất của nhân loại và nó vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong mọi nền văn hoá đọc trên khắp thế giới.

Nguồn: Thuvien.net

Đã đến thời của sách điện tử?

Đã đến thời của sách điện tử?

Nhiều nhà phân tích cho rằng trong 1, 2 năm tới sách điện tử sẽ lên ngôi, nhất là khi sách giáo khoa được ứng dụng kỹ thuật số.

Thị trường thiết bị đọc kỹ thuật số đang được hâm nóng bởi nhiều đối thủ cạnh tranh đang thách thức sách điện tử Kindle của Amazone với giá chào hàng thấp hơn, nhiều tính năng hơn, màn hình màu sáng hơn và nội dung sách được bán kèm theo máy (theo dạng bán khoán), báo hiệu sự mở rộng của một nền công nghiệp mới.

2010 sẽ là năm của e-reader (sách điện tử) không chỉ đối với những người yêu công nghệ và có một tình yêu mãnh liệt với sách. Neil Jones, nhà sáng lập công ty sản xuất sách điện tử Cool-er Interead (Anh) nhận xét thị trường sách điện tử đang ngấp nghé bùng nổ không chỉ riêng tại Mỹ mà còn trên toàn cầu, ông cũng tỏ ra lo lắng khi công ty của mình hoạt động trong lĩnh vực này bởi đây thực sự là một thị trường đầy triển vọng.

Dù không được như cơn bão máy nghe nhạc MP3 một thời với lượng tiêu thị đạt 50 triệu chiếc sau 5 năm tung ra thị trường nhưng công ty nghiên cứu thị trường Forrester báo cáo, tính đến cuối năm 2008, chỉ riêng tại Mỹ đã tiêu thụ được 1 triệu sản phẩm trong đó 60% là của Kindle-Amazone và 40% của Sony.

Sony là công ty tiên phong trong lĩnh vực sách điện tử, tuần trước đã công bố hai mẫu mới với giá 200 và 300 USD, đồng thời công ty cũng giảm 2 USD còn 10USD cho những cuốn sách mới bán chạy nhất của công ty. Công ty cũng công bố mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm.

Theo Sarah Epps, nhà phân tích tại công ty nghiên cứu thị trường Forrester, năm ngoái thị trường đã tăng lên gấp đôi, hy vọng đến năm 2013 lượng tiêu thụ sẽ đạt 13 triệu chiếc và sẽ còn tăng thêm nữa nếu các cơ sở giáo dục triển khai dạy sách điện tử thay cho sách giáo khoa truyền thống. Cô cũng nói thêm, với số lượng học sinh và sinh viên cần sử dụng sách giáo khoa lớn như hiện nay, thị trường sách giáo khoa rất có thể sẽ là chất xúc tác để thị trường sách điện tử phát triển.

Tuy nhiên, thị trường sách điện tử cũng gặp khá nhiều khó khăn thách thức bởi smartphone và netbook cũng có những tính năng tương tự với e-reader ngoài tính năng của một chiếc điện thoại và máy tính, trong khi e-reader chỉ có tính năng đọc sách mặc dù smart phone và netbook không thân thiện với người sử dụng như màn hình E Ink lắp cho Cool-er. Màn hình E Ink tiêu tụ rất ít điện năng được thiết kế với 3 tông màu chủ đạo đen, trắng và ghi, chính sự hạn chế trong màu sắc của E Ink khiến sách điện tử bị giới hạn trong việc đọc tạp chí, sách báo và một số sách giáo khoa minh họa nhiều màu khác.

Một đối thủ khác của sách điện tử đó là máy tính bảng của Apple dự định sẽ ra mắt vào cuối năm nay, ngoài các chức năng của một chiếc máy tính thì sản phẩm này cũng có tính năng tương tự e-reader.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh doanh đều tin rằng thời điểm sách điện tử lên ngôi đang tới, nhất là khi nhiều công ty sản xuất sách điện tử đã hạ giá xuống mức dễ chịu hơn.

Brennan Mullin, Phó giám đốc bộ phận thiết bị đọc kỹ thuật số và âm thanh của Sony hồ hởi, trước đây có những khách hàng không thể gia nhập vào môi trường đọc kỹ thuật số bởi các sản phẩm trước quá đắt để họ có thể mua được; tuy nhiên, những sản phẩm mới đã phá bỏ rào cản này.

Daren Benzi, Phó giám đốc phát triển kinh doanh tại công ty sản xuất giấy điện tử Plastic Logic đã hình dung một thế giới tương lai, khi mỗi người dân đều được trang bị một quyển sách điện tử. Hình thức này sẽ tiết kiệm cho mỗi văn phòng 10.000 trang giấy in 1 năm.

Phần lớn kế hoạch trên đều phụ thuộc vào các cơ quan tổ chức, những nơi có khả năng tích hợp hệ thống văn bản cá nhân, PowerPoint, Excel và các văn bản khác vào trong một thiết bị; đây đồng thời cũng là một cơ hội lớn dành cho máy tính cá nhân và smartphone.

Theo ICTNews (SFGate)

Nguồn: Thư Viện Việt Nam

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Ra mắt trang web Thư viện Điện tử thế giới

Ngày 20/4, Thư viện Điện tử thế giới chính thức ra mắt trên trang web http://www.wdl.org với hàng chục nghìn ảnh tư liệu và trang thông tin đã được số hoá và dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau.

Thư viện ra đời theo ý tưởng của một cựu giáo sư Mỹ với mong muốn tăng cường hiểu biết trên toàn thế giới bằng việc tạo điều kiện để mọi người có thể tiếp cận các tài sản văn hoá quý giá.

Dự án xây dựng thư viện điện tử được thực hiện cùng các đối tác ở nhiều nước trên thế giới sau khi Mỹ gia nhập trở lại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) năm 2003 sau gần 20 năm vắng mặt. Hiện có 26 đối tác từ 19 nước, trong đó có các thư viện quốc gia Ai Cập, Pháp, Iraq và Mexico, đã tham gia vào thư viện điện tử này.

Ông James Billington, người giữ chức Giám đốc Thư viện Quốc hội Mỹ từ năm 1987, nói rằng thư viện điện tử thế giới là bước đệm hướng mọi người suy nghĩ về sự tương tác giữa các nền văn hoá.

Ưu điểm của hệ thống thư viện này là nó không dành cho riêng ai mà là tài sản chung của tất cả mọi người trên toàn cầu. Với thư viện này, những người quan tâm có thể tiếp cận với nhiều tư liệu mà thường chỉ có một bản duy nhất. Chỉ cần nhấn chuột vào một vùng địa lý nào đó, chẳng hạn như châu Âu, bạn có thể tìm được tất cả các nội dung về châu Âu.

Mặc dù chưa thể là cuốn bách khoa toàn thư hoàn hảo về thế giới, nhưng thư viện điện tử sẽ mở "cửa ảo" trên mạng với hy vọng sẽ thu hút thêm nhiều đối tác và nguồn tài chính.

Nguồn: http://www.vnbrand.net

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 5
SỐ 36/2009/QH12 NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2009

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11.

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ:

1. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.”

2. Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

3. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

4. Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

5. Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.

6. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.

7. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phư­ơng tiện hay hình thức nào.

8. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.

9. Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố là tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan để phổ biến đến công chúng với một số lượng bản sao hợp lý.

10. Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử.

11. Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đến công chúng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn.

12. Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.

13. Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

14. Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử.

15. Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn.

16. Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

17. Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.

18. Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.

19. Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.

20. Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

21. Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.

22. Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.

23. Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.

24. Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được.

25. Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây trồng.

26. Vật liệu nhân giống là cây hoặc bộ phận của cây có khả năng phát triển thành một cây mới dùng để nhân giống hoặc để gieo trồng.

27. Vật liệu thu hoạch là cây hoặc bộ phận của cây thu được từ việc gieo trồng vật liệu nhân giống.”

3. Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 7. Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật này.

2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”

4. Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 8. Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ

1. Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.

2. Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

3. Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

4. Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

5. Huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.”

5. Điều 14 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 14. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

c) Tác phẩm báo chí;

d) Tác phẩm âm nhạc;

đ) Tác phẩm sân khấu;

e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

h) Tác phẩm nhiếp ảnh;

i) Tác phẩm kiến trúc;

k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

4. Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này.”

6. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 25. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

3. Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.”

7. Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 26. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao

1. Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thoả thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.”

8. Điều 27 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 27. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

1. Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này được bảo hộ vô thời hạn.

2. Quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này có thời hạn bảo hộ như sau:

a) Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này;

b) Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

c) Thời hạn bảo hộ quy định tại điểm a và điểm b khoản này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.”

9. Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 30. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

1. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

a) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;

b) Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

2. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng.”

10. Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 33. Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao

1. Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thoả thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thoả thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thoả thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

3. Tổ chức, cá nhân sử dụng quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.”

11. Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 41. Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền

1. Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này theo thoả thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định.”

12. Điều 42 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 42. Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước

1. Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm sau đây:

a) Tác phẩm khuyết danh, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này;

b) Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản;

c) Tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

2. Chính phủ quy định cụ thể việc sử dụng tác phẩm thuộc sở hữu nhà nước.”

13. Điều 87 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 87. Quyền đăng ký nhãn hiệu

1. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.

2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.

3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:

a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;

b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.

6. Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.

7. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.”

14. Điều 90 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 90. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

1. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.

2. Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.

3. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.”

15. Điều 119 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 119. Thời hạn xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp

1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được thẩm định hình thức trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nộp đơn.

2. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được thẩm định nội dung trong thời hạn sau đây:

a) Đối với sáng chế không quá mười tám tháng, kể từ ngày công bố đơn nếu yêu cầu thẩm định nội dung được nộp trước ngày công bố đơn hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu thẩm định nội dung nếu yêu cầu đó được nộp sau ngày công bố đơn;

b) Đối với nhãn hiệu không quá chín tháng, kể từ ngày công bố đơn;

c) Đối với kiểu dáng công nghiệp không quá bảy tháng, kể từ ngày công bố đơn;

d) Đối với chỉ dẫn địa lý không quá sáu tháng, kể từ ngày công bố đơn.

3. Thời hạn thẩm định lại đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bằng hai phần ba thời hạn thẩm định lần đầu, đối với những vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không vượt quá thời hạn thẩm định lần đầu.

4. Thời gian để người nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn không được tính vào các thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này; thời hạn xử lý yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn không vượt quá một phần ba thời gian thẩm định tương ứng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”

16. Điều 134 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 134. Quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp

1. Trường hợp trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có) của đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đồng nhất với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập (sau đây gọi là người có quyền sử dụng trước) thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ. Việc thực hiện quyền của người sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp.

2. Người có quyền sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không được phép chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển giao quyền đó kèm theo việc chuyển giao cơ sở sản xuất, kinh doanh nơi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. Người có quyền sử dụng trước không được mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng nếu không được chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp cho phép.”

17. Điều 154 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 154. Điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp với danh nghĩa tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp:

1. Là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam;

2. Có chức năng hoạt động dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh);

3. Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức uỷ quyền phải đáp ứng các điều kiện hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 155 của Luật này.”

18. Điều 157 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 157. Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng

1. Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng là tổ chức, cá nhân chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng.

2. Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc nước có ký kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thoả thuận về bảo hộ giống cây trồng; tổ chức, cá nhân nước ngoài có trụ sở, địa chỉ thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có trụ sở, địa chỉ thường trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại nước có ký kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thoả thuận về bảo hộ giống cây trồng.”

19. Điều 160 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 160. Tính khác biệt của giống cây trồng

1. Giống cây trồng được coi là có tính khác biệt nếu có khả năng phân biệt rõ ràng với các giống cây trồng khác được biết đến rộng rãi tại thời điểm nộp đơn hoặc ngày ưu tiên nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên.

2. Giống cây trồng được biết đến rộng rãi quy định tại khoản 1 Điều này là giống cây trồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Giống cây trồng mà vật liệu nhân giống hoặc vật liệu thu hoạch của giống đó được sử dụng một cách rộng rãi trên thị trường ở bất kỳ quốc gia nào tại thời điểm nộp đơn đăng ký bảo hộ;

b) Giống cây trồng đã được bảo hộ hoặc đưa vào Danh mục giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia nào;

c) Giống cây trồng là đối tượng trong đơn đăng ký bảo hộ hoặc đơn đăng ký vào Danh mục giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia nào, nếu các đơn này không bị từ chối.”

20. Điều 163 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 163. Tên của giống cây trồng

1. Người đăng ký phải đề xuất một tên phù hợp cho giống cây trồng với cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng, tên đó phải trùng với tên đã đăng ký bảo hộ ở bất kỳ quốc gia nào có ký kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ giống cây trồng.

2. Tên của giống cây trồng được coi là phù hợp nếu tên đó có khả năng dễ dàng phân biệt được với tên của các giống cây trồng khác được biết đến rộng rãi trong cùng một loài hoặc loài tương tự.

3. Tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp trong các trường hợp sau đây:

a) Chỉ bao gồm các chữ số, trừ trường hợp chữ số liên quan đến đặc tính hoặc sự hình thành giống đó;

b) Vi phạm đạo đức xã hội;

c) Dễ gây hiểu nhầm về các đặc trưng, đặc tính của giống đó;

d) Dễ gây hiểu nhầm về danh tính của tác giả;

đ) Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày công bố đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng;

e) Ảnh hưởng đến quyền đã có trước của tổ chức, cá nhân khác.

4. Tổ chức, cá nhân chào bán hoặc đưa ra thị trường vật liệu nhân giống của giống cây trồng phải sử dụng tên giống cây trồng như tên đã ghi trong bằng bảo hộ, kể cả sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ.

5. Khi tên giống cây trồng được kết hợp với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại hoặc các chỉ dẫn tương tự với tên giống cây trồng đã được đăng ký để chào bán hoặc đưa ra thị trường thì tên đó vẫn phải có khả năng nhận biết một cách dễ dàng.”

21. Điều 165 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 165. Đăng ký quyền đối với giống cây trồng

1. Tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 157 của Luật này nộp đơn đăng ký quyền đối với giống cây trồng (sau đây gọi là đơn đăng ký bảo hộ) trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

2. Tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây được kinh doanh dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng với danh nghĩa tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng:

a) Là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam;

b) Có chức năng hoạt động dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh);

3. Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức uỷ quyền phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này được hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.

4. Cá nhân được phép hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng;

b) Hoạt động trong một tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.

5. Cá nhân đáp ứng các điều kiện sau đây được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng:

a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Thường trú tại Việt Nam;

c) Có bằng tốt nghiệp đại học;

d) Đã trực tiếp làm công tác pháp luật về quyền đối với giống cây trồng liên tục từ năm năm trở lên hoặc đã trực tiếp làm công tác thẩm định các loại đơn đăng ký quyền đối với giống cây trồng tại cơ quan quốc gia hoặc quốc tế về quyền đối với giống cây trồng liên tục từ năm năm trở lên hoặc đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật về quyền đối với giống cây trồng được cơ quan có thẩm quyền công nhận;

đ) Không phải là công chức, viên chức đang làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo đảm thực thi quyền đối với giống cây trồng;

e) Đã đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về nghiệp vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng do cơ quan có thẩm quyền tổ chức.

6. Chính phủ quy định cụ thể về đại diện hợp pháp nộp đơn và tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.”

22. Điều 186 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 186. Quyền của chủ bằng bảo hộ

1. Chủ bằng bảo hộ có quyền sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng các quyền sau đây liên quan đến vật liệu nhân giống của giống đã được bảo hộ:

a) Sản xuất hoặc nhân giống;

b) Chế biến nhằm mục đích nhân giống;

c) Chào hàng;

d) Bán hoặc thực hiện các hoạt động tiếp cận thị trường khác;

đ) Xuất khẩu;

e) Nhập khẩu;

g) Lưu giữ để thực hiện các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này.

2. Quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với vật liệu thu hoạch thu được từ việc sử dụng bất hợp pháp vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ, trừ trường hợp chủ bằng bảo hộ đã có cơ hội hợp lý để thực hiện quyền của mình đối với vật liệu nhân giống nhưng không thực hiện.

3. Ngăn cấm người khác sử dụng giống cây trồng theo quy định tại Điều 188 của Luật này.

4. Để thừa kế, kế thừa quyền đối với giống cây trồng và chuyển giao quyền đối với giống cây trồng theo quy định tại Chương XV của Luật này.”

23. Điều 187 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 187. Mở rộng quyền của chủ bằng bảo hộ

Quyền của chủ bằng bảo hộ được mở rộng đối với các giống cây trồng sau đây:

1. Giống cây trồng có nguồn gốc chủ yếu từ giống cây trồng được bảo hộ, trừ trường hợp giống cây trồng được bảo hộ có nguồn gốc chủ yếu từ một giống cây trồng đã được bảo hộ khác.

Giống cây trồng được coi là có nguồn gốc chủ yếu từ giống được bảo hộ, nếu giống cây trồng đó vẫn giữ lại biểu hiện của các tính trạng thu được từ kiểu gen hoặc sự phối hợp các kiểu gen của giống được bảo hộ, trừ những tính trạng khác biệt là kết quả của sự tác động vào giống được bảo hộ;

2. Giống cây trồng không khác biệt rõ ràng với giống cây trồng đã được bảo hộ;

3. Giống cây trồng mà việc sản xuất đòi hỏi phải sử dụng lặp lại giống cây trồng đã được bảo hộ.”

24. Điều 190 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 190. Hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng

1. Các hành vi sau đây không bị coi là xâm phạm quyền đối với giống cây trồng đã được bảo hộ:

a) Sử dụng giống cây trồng phục vụ nhu cầu cá nhân và phi thương mại;

b) Sử dụng giống cây trồng nhằm mục đích thử nghiệm;

c) Sử dụng giống cây trồng để tạo ra giống cây trồng khác, trừ trường hợp quy định tại Điều 187 của Luật này;

d) Hộ sản xuất cá thể sử dụng sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng để tự nhân giống và gieo trồng cho vụ sau trên diện tích đất của mình.

2. Quyền đối với giống cây trồng không được áp dụng đối với các hành vi liên quan đến vật liệu của giống cây trồng được bảo hộ do chủ bằng bảo hộ hoặc người được chủ bằng bảo hộ cho phép bán hoặc bằng cách khác đưa ra thị trường Việt Nam hoặc thị trường nước ngoài, trừ các hành vi sau đây:

a) Liên quan đến việc nhân tiếp giống cây trồng đó;

b) Liên quan đến việc xuất khẩu các vật liệu của giống cây trồng có khả năng nhân giống vào những nước không bảo hộ các chi hoặc loài cây trồng đó, trừ trường hợp xuất khẩu vật liệu nhằm mục đích tiêu dùng.”

25. Điều 194 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 194. Chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng

1. Chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng là việc chủ bằng bảo hộ giống cây trồng chuyển giao toàn bộ quyền đối với giống cây trồng đó cho bên nhận chuyển nhượng. Bên nhận chuyển nhượng trở thành chủ bằng bảo hộ giống cây trồng kể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng theo thủ tục do pháp luật quy định.

2. Trường hợp quyền đối với giống cây trồng thuộc đồng sở hữu thì việc chuyển nhượng cho người khác phải được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu.

3. Việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản.

4. Việc chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng tạo ra từ ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ.”

26. Điều 201 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 201. Giám định về sở hữu trí tuệ

1. Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

2. Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam đáp ứng các điều kiện sau đây được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ:

a) Có nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động giám định theo quy định của pháp luật;

b) Có chức năng thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động;

c) Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức ủy quyền có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.

3. Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ:

a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Thường trú tại Việt Nam;

c) Có phẩm chất đạo đức tốt;

d) Có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định, đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực đó từ năm năm trở lên và đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp vụ về giám định.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền trưng cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý.

5. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

6. Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.”

27. Điều 211 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 211. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính

1. Tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính:

a) Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

b) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này;

c) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

2. Chính phủ quy định cụ thể về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức phạt và thủ tục xử phạt.

3. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.”

28. Điều 214 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 214. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

2. Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ;

b) Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.

3. Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;

b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá.

4. Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”

29. Điều 218 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 218. Thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan

1. Khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 217 của Luật này thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng.

2. Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan là mười ngày làm việc, kể từ ngày người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan nhận được thông báo của cơ quan hải quan về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan. Trong trường hợp người yêu cầu tạm dừng có lý do chính đáng thì thời hạn này có thể kéo dài, nhưng không được quá hai mươi ngày làm việc với điều kiện người yêu cầu tạm dừng thủ tục hải quan phải nộp thêm khoản bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 217 của Luật này.

3. Khi kết thúc thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với người xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng thì cơ quan hải quan có trách nhiệm sau đây:

a) Tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng;

b) Buộc người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan phải bồi thường cho chủ lô hàng toàn bộ thiệt hại do yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng gây ra và phải thanh toán các chi phí lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa và các chi phí phát sinh khác cho cơ quan hải quan và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan theo quy định của pháp luật về hải quan;

c) Hoàn trả cho người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan khoản tiền bảo đảm còn lại sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường và thanh toán các chi phí quy định tại điểm b khoản này.”

30. Điều 220 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 220. Điều khoản chuyển tiếp

1. Quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực, nếu còn thời hạn bảo hộ vào ngày Luật này có hiệu lực thì được tiếp tục bảo hộ theo quy định của Luật này.

2. Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá, thiết kế bố trí, giống cây trồng đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục xử lý theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn.

3. Mọi quyền và nghĩa vụ theo văn bằng bảo hộ được cấp theo quy định của pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực và các thủ tục duy trì, gia hạn, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền sở hữu, giải quyết tranh chấp liên quan đến văn bằng bảo hộ đó được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ căn cứ huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ thì áp dụng quy định pháp luật có hiệu lực đối với việc xét cấp văn bằng bảo hộ đó. Quy định này cũng được áp dụng đối với Quyết định đăng bạ tên gọi xuất xứ hàng hóa ban hành theo quy định pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực; cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý đối với các tên gọi xuất xứ hàng hóa.

4. Bí mật kinh doanh và tên thương mại đã tồn tại và được bảo hộ theo Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp tiếp tục được bảo hộ theo quy định của Luật này.

5. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực, chỉ dẫn địa lý, kể cả chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo Nghị định quy định tại khoản 4 Điều này chỉ được bảo hộ sau khi đã được đăng ký theo quy định của Luật này.”

Điều 2

Thay cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại các khoản 2, 3 và 5 Điều 11, điểm a khoản 2 Điều 50, khoản 4 Điều 51 của Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11.

Điều 3

1.Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 .



CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Phú Trọng

Bài đăng xem nhiều nhất :