Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Chúa Nhật II Mùa Vọng A : SỰ CÔNG CHÍNH VÀ NỀN HÒA BÌNH VIÊN MÃN SẼ TRIỂN NỞ…


Hằng năm cứ mỗi dịp mùa Vọng về, đoàn tín hữu chúng ta lại được nghe điệp khúc: “Sự công chính và nền hòa bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại Người.” (Tv 71,7). Đã là người, từ cổ chí kim, ai cũng hằng mong được sống trong an bình. Hòa bình mãi là niềm ước mong của mọi dân tộc, mọi quốc gia, dĩ nhiên là ngoại trừ những kẻ lắm tham vọng muốn bá quyền, muốn độc tôn, thống trị kẻ khác…Và dường như sự an bình, yên ổn vẫn còn là ước mơ, cho dẫu một đôi lúc, ở một vài nơi đã được nếm hưởng nhưng chưa chắc đã là được bình an thực sự.
Đức Kitô đã đến thế gian. Người đã thiết lập triều đại nước Thiên Chúa, thế nhưng triều đại của Thiên Chúa vẫn chưa hoàn tất. Chúa đã làm người để chúng ta được làm con cái Thiên Chúa. Trong kinh “Lay Cha”, khi dạy chúng ta khẩn khoản nài xin cho nước Cha trị đến (hay xin cho triều đại Cha mau đến, như cách dịch của Nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh), hẳn là Chúa Kitô không dạy chúng ta chỉ biết “há miệng và ngửa tay” đón chờ nhưng dạy ta phải biết nắm tay lại để chung xây triều đại của Thiên Chúa.
Sẽ chẳng có hòa bình nếu không có công bằng. Các Đức Giáo Hoàng gần đây đã từng nhấn mạnh điều này vào mỗi dịp đầu năm Dương lịch hay những khi kêu gọi chấm dứt chiến tranh. Quả thật, làm sao có được sự công bình nếu không có sự công chính. Nói đên sự công chính là nói đến sự công minh, chính trực trong tư tưởng, lời nói và hành động của con người. Như thế cái nguồn gốc của sự hòa bình là nơi chính bản thân con người. Tuy nhiên, vì con người là sinh vật có tính xã hội do đó một nền hòa bình chính hiệu cần phải có những thể chế luật lệ công minh, những đường lối chính sách ngay thẳng, công bình.
Những hình ảnh “Sói sống chung với chiên con; beo nằm chung với dê; bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau; con trẻ sẽ dẫn dắt chúng…” chính là niềm ước mơ của mọi người, mọi thời. Với những lời của Tiên Tri Isaia qua bài đọc thứ nhất (Is 11,1-10) và lời giảng của thánh Gioan Tẩy giả trong bài tin Mừng Chúa Nhật II mùa Vọng năm A này (Mt 3,1-12), xin được góp một vài ý thô thiển để cùng dệt xây một nền hòa bình đích thực và chính hiệu.
1. “Ngài sẽ lấy sự công minh mà xét xử những người nghèo khó, và lấy lòng chính trực mà bênh đỡ kẻ hiền lành trong xứ sở” (Is 11,4). Ngay cả hôm nay, các hiện tượng người nghèo khó bị áp bức bóc lột, bị xét xử bất công vẫn còn đó. Nhiều nơi trên thế giới và ngay chính trên quê hương chúng ta hiện tượng này vẫn dẫy đầy đó đây. Câu ngạn ngữ “ở hiền, gặp lành” xem ra không phải lúc nào cũng đúng mà có vẻ như đang là ngược lại. Càng ở hiền thì càng gặp nhiều điều chẳng may, càng bị thua thiệt nhiều mặt. Chính vì thế người con cái Chúa cần phải nỗ lực, gắng công liên lỉ.
Dĩ nhiên, không phải ôm bom tự sát, không phải cầm gươm giáo, súng ống làm vũ khí, nhưng ta phải biết “dùng lời như gậy đánh người áp chế và dùng tiếng nói giết chết kẻ hung ác” (Is 11,4). Đức Bênêđictô XVI, thời chưa làm Giáo Hoàng đã từng cảnh báo các mục tử trong Hội Thánh không được câm nín trước bất công và tội ác.
Quả thật, là Kitô hữu, nhũng người con cái Chúa, những người có bổn phận xây dựng một nền hòa bình để cho Nước Chúa trị đến. Phải chăng chúng ta đã vô tình hay hữu ý ngậm miệng làm thinh trước các bất công xã hội? Chúng ta đã mạnh mẽ làm chứng cho sự thật, bảo vệ công lý như thế nào? Phải chăng chúng ta chưa dám hay không dám lên tiếng bảo vệ người nghèo khó, bênh đỡ người hiền lành? Nhiều câu hỏi thật không quá khó để trả lời nếu biết khiêm nhu và trung thực.
Không thiếu những lý do bào chữa, nhưng chúng ta cũng đành thú nhận rằng lắm khi vì đã “ăn xôi chùa, nên đành ngọng miệng”, hoặc có thể e sợ “há miệng sẽ mắc quai” hoặc rất có thể vì đã “có tật thì giật mình” nên chọn giải pháp làm thinh. Cũng có thể vin vào lý do tưởng như là khôn ngoan và hợp lý như là thời cơ chưa thuận lợi, chưa phải lúc…thế nhưng, chúng ta đừng quên đòi hỏi của Tin mừng là dù khi thuận lợi hay không thuận lợi, chân lý phải được công bố.
2. Phê bình, góp ý để làm cho các đường lối, chủ trương, chính sách trong hội Thánh và ngoài xã hội được ngay chính:
“Đường Chúa, ta uốn cho ngay…”. Ca từ của một bài hát trong mùa Vọng ta vốn thân quen vì được trích lời, ý, từ Thánh kinh. Câu hát này có thể làm cho người ta hiểu sai. Mọi đường lối của Chúa đều là từ bi và ngay chính. Cớ sao ta cần phải uốn cho ngay đường lối của Chúa. Không lẽ đường lối của Chúa chưa ngay thẳng hoặc đang cong queo? Chẳng một ai dám to gan khẳng định điều này khi họ là tín hữu đích thực. Thế thì ta cần phải hiểu chính xác về lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả vốn được trích từ lời của tiên tri Isaia: “Có tiếng hô trong hoang địa: Hãy dọn đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi , phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho bằng…(Is 40,3.5; Lc 3,4-5; Mt 3,3; Mc 1,2-3). Hóa ra đây là những đường lối của ta, cung cách sống của bản thân ta và cũng không loại trừ những thể chế, luật lệ, chủ trương, đường lối, chính sách của chúng ta.
Hiến Pháp, luật lệ các quốc gia và cả bộ Giáo Luật trong Hội Thánh chúng ta đã từng được chỉnh sửa, thay đổi, tất thảy chỉ vì chúng không còn phù hợp, thiếu chính đáng và rất có thể là chưa được “thẳng” ở điều này hay điểm kia. Thử đặt vấn đề rằng các đường lối, các luật lệ hiện nay vẫn còn nhiều điều cần sửa cho “ngay thẳng” hay không? Hẳn ta sẽ dễ dàng trả lời không chút nghi ngại là vẫn đang còn.
Tiến trình “tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ” nhắc nhớ cho ta về động thái căn bản là chỉnh sửa cho ngay thẳng cõi lòng, cung cách sống của ta. Tuy nhiên, yếu tố xã hội vẫn có đó mức độ ảnh hưởng đáng kể trên suy nghĩ và hành động của ta. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong bức thư chung năm 2006 đã nhìn nhận sự thật này: “con người vừa là tác nhân vừa là nạn nhân của hoàn cảnh xã hội” (số 5). Và chắc chắn các cơ chế, luật lệ, các đường lối, chính sách quốc gia, xã hội có ảnh hưởng trên nhân cách và lối sống của con người thật đáng kể. Đất nước chúng ta đã nhìn nhận sai lầm của cơ chế bao cấp, của việc quá đề cao tổ chức vốn đã từng làm thui chột tinh thần trách nhiệm cá nhân và đã gây hậu quả xấu thật khó khắc phục một sớm một chiều. Và còn nhiều hậu quả xấu khác do bởi cơ chế, đường lối chính sách “không ngay thẳng” mà chúng ta đang phải hứng chịu đây? Việc chạy theo thành tích, chỉ nhắm đến lợi ích kinh tế trong giáo dục hay việc gạt các tập thể tôn giáo ra khỏi quốc sách giáo dục cũng là những “đường lối cong queo” mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lên tiếng trong thư chung năm 2007 (x.số 11-12;18-19).
Mùa Vọng lại về, Kitô hữu chúng ta không chỉ mong chờ Chúa Kitô lại đến, nhưng chúng ta cần phải loan báo cho thế giới nhận biết rằng Chúa Kitô, Vua Hòa Bình đã đến trong thế gian. Một trong những cách thế loan bào tin vui ấy hữu hiệu nhất là cần nỗ lực làm cho nền hòa bình viên mãn hiện diện cách cụ thể một cách nào đó ngay môi truờng ta đang sống.
Một tín hữu đã thành thật thú nhận rằng để sống lời Chúa dạy như trên chắc là phải tử đạo thôi. Quả không sai vì Đức Kitô đã phán: “ Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,9-10). Lịch sử minh chứng rằng hai mối phúc này thường đi sánh đôi qua mọi thời và mọi nơi.


Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

MÙA VỌNG : MÙA CỦA NIỀM HÂN HOAN

Hằng năm (năm Phụng vụ) cứ dịp mùa Vọng lại về thì cái sắc màu “tim tím” của phẩm phục phụng vụ đập vào mắt chúng ta trông rất quen mà cũng rất chi là buồn. Phải chăng cái màu tím của phẩm phục phụng vụ mùa Vọng trùng với màu của mùa Chay và những ngày lễ tang, lễ cầu hồn khiến ta dễ xem đó như là biểu thị của sự buồn bã, u sầu? Cũng có thể lắm chứ. Tuy nhiên, xét cho hết ý thì mùa Vọng chẳng có chút gì dáng vẻ buồn bã, u sầu cả. Vì sao? Xin mạn phép trình bày cảm nhận riêng mình.
Mùa Vọng: mùa của niềm vui. Chẳng một đặt hy vọng vào một điều xúi quẩy, vào một nỗi bất hạnh hay một chuyện không may, không lành. Có hơi bị bất thường thì mới ngồi chờ mong những điều ấy xảy đến cho mình. Đã là mong chờ, đã là hy vọng thì ai cũng sẽ hy vọng và chờ mong một sự gì đó may mắn, tốt lành, dĩ nhiên là cho mình, cho người thân. Có thể có trường hợp ngoại lệ, mong điều xấu nhưng nhưng thường là cho kẻ thù. Hội thánh dạy chúng ta: “Mùa Vọng có hai đặc tính: vừa là mùa chuẩn bị mừng lễ trọng Giáng Sinh, trong lễ này, kính nhớ việc Con Chúa đến lần thứ nhất với loài người; vừa là mùa mà qua việc kính nhớ này, các tín hữu hướng lòng trông đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Vì hai lý do này, Mùa Vọng được xem nhhư mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi” (AC 30).
Xưa, Chúa đã đến thế gian “không phải là để lên án thế gian nhưng để thế gian nhờ Người mà được cứu độ” (x.Gio 3,17). Hội Thánh dạy chúng ta rằng mạc khải nên trọn vẹn và hoàn hảo nơi chính Chúa Kitô, cuộc đời và sự nghiệp của Người, những lời giảng dạy của Người, đặc biệt cuộc tử nạn và phục sinh của Người (x.MK số 4; GLCG số 65). Nào chúng ta thử xem Chúa Kitô đến thì những gì đã xảy ra. Chính Chúa minh nhiên khẳng định với các môn đệ của Gioan Tẩy giả: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những gì mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe tin mừng” (Lc 7,22). Trước đó Ngài cũng đã mặc nhiên nhận vào mình lời Ngôn sứ Isaia loan báo: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi rao giảng tin mừng… (Lc 4,18-19). Sau này, thánh Phêrô mạnh dạn minh chứng ở Xêdarê: “quý vị biết rõ: Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người giáng phúc thi ân đến đó” (Cvtđ 10, 38). Chúa đến là để ban an bình, ban hạnh phúc. Ngài ban bình an cho chúng ta, một sự bình an không như thế gian ban tặng. Ngài ban hạnh phúc cho ta, hạnh phúc sâu xa và vĩnh cữu mà không một ai có thể cướp mất được. Vì thế, tâm tình phấn khởi hân hoan là tâm tình phải có khi đón chờ Chúa đến. Không chỉ hân hoan mà còn luôn sẵn sàng tỉnh thức. Sao lại không tỉnh thức sẵn sàng khi chờ một niềm vui vô bờ, một hạnh phúc bất tận đang đến với chúng ta.
Xin hầu một câu chuyện bịa như thật: Cảm kích trước tấm lòng anh em cùng tu ngày nào, nhất là tình hiệp nhất, liên đới, bạn Minh nhà ta phấn khởi và không kém phần long trọng tuyên bố: “Nhờ ơn Chúa, mình được may mắn hơn anh em về công ăn việc làm. Dĩ nhiên nhờ thế mà hầu bao của mình ngày càng “căng phồng” lên. Hỏng dám gánh lấy lời chúc dữ của Thầy Giêsu đổ trên đầu những người “lắm của, nhiều tiền”: “Khốn cho các ngươi…” Nay, tôi: Trương lão gia, sau khi bàn luận, thống nhất với bà xã, quyết định như thế này: Mình sẽ trở về quê Việt mừng lễ Giáng Sinh với anh em bạn cùng tu ngày nào. Ngoài hành lý cá nhân bình thường, tôi lận trong lưng 5.000.000,00 USD (năm triệu đô Mỹ). Bạn nào trong số năm người cùng lớp tu ngày xưa đón mình trước ở sân bay Tân Sơn Nhất thì sẽ được tặng một triệu đô la. Mình sẽ về sân bay TSN khoảng đêm 23/12. Giờ giấc chính xác thì không không biết được. Thông báo kết thúc. Trương lão gia xưa nay vốn ngôn hành luôn sánh đôi. “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”.
Chuyện thật như bịa ở sân bay TSN 18 giờ chiều ngày 23/12.
- Ủa, sao Xuân Long không ở nhà để chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, rồi con lo chở vợ chở con đi xưng tội đi chứ, gần lễ rồi mà còn ra chực ở sân bay này làm chi? Hùng Dũng vừa nói vừa há cái miệng hơi meo méo.
- Thế thì Dũng không có vợ, đang độc thân chắc. Vất vả sơn cho xong cái Nhà Thờ Thủ Đức hầu kịp Lễ đã bở hơi tai, không chịu nghỉ ở nhà, còn vác cái thân ra đây làm chi? -Long không chịu thua bèn vặn lại.- Dũng vừa gải cái đầu bù xù dính đầy sơn vừa ậm ọe:
- À, bạn bè với nhau cả, phải cố chịu khó, cố thức để chờ đón thằng Minh chứ. Vả lại còng lưng sơn, cả đời tau, đời con tau, cháu tau, chắc gì được triệu đô la. (Hùng Dũng vốn được anh em khen tặng là thẳng như ruột ngựa). Còn chú mày đã có nhà lầu, có xế hộp xịn mà cũng lặn lội vất vả như tớ hả?
- Thức một chút, chầu chực một chút nhằm nhò gì so với một triệu đô trên trời rơi xuống. Thằng Minh đã có lòng thì mình phải có công chứ, hề hề. Long phân bua trong tiếng cười khoái trá.
- Không biết khi mô thằng Minh đến heng. Phải thức thôi, phải sẵn sàng thôi!
- Làm sao mà ngủ được, có mệt, có buồn mấy đi nữa thì cũng cố thức để chờ chứ.
- Thế thì ta làm vài xị lai rai vừa thức vừa chờ.
Đúng là đâu có Long, có Dũng hẳn thời có xị thôi với bất cứ lý do gì dù buồn hay vui, dù trúng mánh hay là công toi. Đang nhậu nhưng mắt của hai bạn không rời cái cổng ra vào của sân bay. Thỉnh thoảng mới đảo qua đảo lại nhìn trời, nhìn người chung quanh để cặp mắt đỡ mỏi. Phải tỉnh thức, phải sẵn sàng vì không biết giờ nào, phút nào lão Trương đến phi trường. Không được phép để mình đứng hàng thứ sáu. Công dã tràng! Ánh đèn điện rực sáng của nhà chờ phi trường cũng không đủ soi tỏ mặt từng người khi mà số người đi đón thân nhân khu vực ‘ga quốc tế” thường đông gấp năm gấp mười số người xuống máy bay, thế mà hình như không một ai ở ngoài vùng phủ sóng của bốn con mắt của hai anh bạn đang nhâm nhi. Bỗng Hùng Dũng la lên :
- Kìa kìa, xem ai có tấm lòng với người thân quá đỗi kìa, ra tận phi trường bằng chiếc xe lăn quả là hết tình hết ý.
- Đâu? đâu? Hình như trông quen quen. Đúng là Hoàng Phúc rồi, một anh bạn bị bệnh teo cơ từ thuở nhỏ. Cả hai vụt chạy đến với “vị” ngồi xe lăn đi đón người thân.
- Phúc hả? Lăn xe từ Hàm Tân-Phan Thiết vào đây hả? Đón ai thế?
- Không lẽ chỉ mình hai ông bạn mới biết tin Trương Văn Minh thôi ư?
- Nè, nói thật đừng trách nghen - cũng là cái ông ruột ngựa Hùng Dũng lên tiếng - Đằng ấy còn mong một triệu đô để làm gì? Vợ con không có, à chưa có, lấy tiền để làm gì?
- Thú thật với hai bạn, trong niềm tin thì Chúa chính là gia nghiệp của mình, nhưng đời sống thực tiển lại cám dỗ mình: tiền là tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khoẻ của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là là…
- Thôi, thôi, stop. Tụi mình thuộc lòng cái điệp khúc mà các ông cha, vốn không biết chi sự đời như tụi mình mà lại thường thao thao trên bục giảng về chuyện cơm áo gạo tiền. Hùng Dũng ngắt lời chưa xong thì Xuân Long vội tiếp ngay:
- Xì, nói gì đến mấy ông cha. Cơm nước hằng ngày có người bưng bê, có hề lao tâm khổ trí vì miếng cơm manh áo như tụi mình đâu. Hằng ngày giang tay chưa đến một tiếng đồng hồ là có đủ số tiền bằng hoặc hơn tụi mình suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời rồi. Giáo Hội mà cho các ông có rờ mọc ngoằn ngoèo lê thê như tụi mình chắc là ngọng miệng khi giảng về sự khó nghèo, sự từ bỏ. Dũng ta được dịp đế thêm:
- Mình mà như mấy ổng, thì chẳng cần biết tiền bạc làm gì. Hết giang tay rồi tay lại cầm ly nhâm nhi như mấy tiên ông thoát tục. Hoàng Phúc ngắt lời:
- Đừng xỏ xiên các ngài nữa, để sức mà thức canh chừng lão Trương xuống phi trường kẻo hỏng phần thì công toi. Cả ba trở về với nhiệm vụ. Dù trời đã dần về khuya mà chẳng con mắt nào dám chợp. Chợt tiếng Hùng Dũng la lên:
- Mắt mình sao choi chói. Đúng rồi, cái trán ông nào quá láng đây. Một cái trán hói, đầu hơi to to trên vóc người nho nhỏ, ai như…như ông già cao nguyên. Ủa cái lão hói Ban Mê giờ này không lo giải tội, không lo chuẩn bị lễ Giáng Sinh cho bà con, còn mò về đây làm gì cà? Cả nhà chết gần hết rồi còn ai chết nữa đâu mà bỏ cả hai chục ngàn giáo dân trong những ngày đại Lễ này. Xin chào, cha Ban Mê phải không? Có người thân hấp hối dưới này hả? Sao lang thang ở đây giờ này? Mai là Noel rồi, không ở nhà lo cho giáo dân xuống đây làm gì? Thành thật khai báo đi! - Đúng cung giọng của ông ruột ngựa Mai cô Hùng Dũng-
- Chào anh em! Hùng Dũng, Xuân Long, à à cả Hoàng Phúc đây nữa hả. Biết là mai Noel rôi nhưng tớ đã năn nỉ cha phó chạy sô giúp. Sáng mai chạy nước rút về Ban Mê vẫn còn kịp chán. Nếu xe cộ trục trặc hay đường sá sụt lở vì mưa gió mà bà con ở ba bốn điểm còn lại không có Lễ thì sang năm ta bù, năm nào mà không có lễ Noel. Thú thật với các bạn là có đọc tin của Trương Văn Minh. Dù thế nào đi nữa, cũng phải sẵn sàng, phải sẵn sàng tỉnh thức luôn. Dịp may ngàn năm có một, không thể bỏ được. Có thực mới vực được đạo chứ.- Dĩ nhiên, cái ông cha vùng cao nguyên này có đủ lý lẽ về thánh kinh, thần học, luân lý…lẫn mục vụ, để biện minh cho sự hiện diện của mình ở sân bay TSN giờ này.
Câu chuyện bịa như thật hay là thật như bịa vẫn tiếp tục với sự xuất hiện của từng thành viên một lớp tu ngày nào của Tiểu Chúng Viện Hoan Thiện. Ngoại trừ chỉ một thành viên nước ngoài với lý do mua vé máy bay không kịp là cha Trần Thu, biệt hiệu Thu Ca, làm quản xứ một giáo xứ ở Canada (chắc ông cha này chịu chức gần kỷ niệm ngân khánh nên vướng bận nhiều dây mơ rể má!), thì hình như không thiếu một ai, kể cả lão Trần Diễn tận Canada hay chú út Cường tựa là Heo Con xứ Na Uy… Điểm mặt, điểm danh mới biết thiếu các anh Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Go, Nguyễn Công Xuân…những người không thể có mặt cách cụ thể thấy được vì đã khuất núi. Có lẽ mấy bạn này chỉ xài đô la của “ngân hàng âm phủ” mà người ta thường rải cách hào phóng, không chút sợ làm ô nhiễm môi trường trong nhiều đám tang ở đất nước Việt Nam hiện nay.
Trong khi chờ sự xuất hiện của Trương lão gia thì chuyện như thường tình xảy đến là chai, ly, dĩa. Không khí thật phấn khởi hân hoan. Bỗng già làng Nguyễn Phùng tuyên bố một câu như chân lý thực tiển: “Có ngu, có điên mới không tỉnh thức sẵn sàng trước một mối lợi quá lớn như thế này. Phải thức thôi! Năm thằng nào nhận được năm triêụ đô thì phải đem chia đều cho tất cả, dĩ nhiên là không để lão Trương biết. Tất cả phấn khởi hoan hô và cùng dzô 100%. Ông cha Nghĩa ngứa nghề bèn thêm: “Giờ mình mới cảm nghiệm lời Thánh Phaolô: tôi chấp nhận mọi thua thiệt trước một mối lợi lớn là được biết Đức Kitô”. Và ngài thú nhận: “mình chưa thực sự gặp gỡ Chúa Kitô cách nào đó như thánh tông đồ”.
Sẵn sàng, tỉnh thức không phải là điều kiện mà chính là hệ quả kéo theo trước niềm vui đang đón chờ một hạnh phúc bất tận.
Bạn, tôi, chúng ta có thật xác tín rằng Chúa đến để đem hạnh phúc cho nhân loại không? Chúng ta có xác tín Chúa là gia nghiệp của mình không? Như thánh Philipphê, ta có mong được thấy Chúa, được gặp Chúa là đủ cho ta không? (x.Ga 14,8)
Mùa Vọng, mùa mong chờ Chúa lại đến trong vinh quang với ngày tận cùng của vũ trụ vạn vật. Mùa Vọng cũng nhắc nhở chúng ta chờ mong Chúa đến với mỗi người trong ngay kết thúc cuộc đời này. Nói đến ngày tận thế, thú thực ông cha này không mấy thấy lo cho bằng lũ trẻ choai choai, vì theo lời chúng khai thật thà là vì chưa được sống như người lớn, dĩ nhiên là hàm ý được hưởng cái sự đời này. Còn nói đến ngày chết, quả tôi rất nhiều khi thấy lo lo, sợ sợ, nhất là trong những lần ngã bệnh. Đúng là chỉ có thánh mới phấn khởi hân hoan khi đối diện với cái chết tức là cận kề dịp gặp Chúa, nguồn của mọi phúc lành.
Vấn đề đặt ra là làm sao có được sự xác tín rằng Chúa đến để đem hạnh phúc cho ta. Chúa đến không phải để lên án thế gian nhưng để bất cứ ai tin vào Ngài thì được cứu độ (x.Ga 3,16-17). Và Mùa Vọng phải là mùa của niềm vui, của sự phấn khởi hân hoan. Ước gì một ngày nào đó các phẩm phục mùa Vọng sẽ có sắc màu hồng tươi thay cho cái màu tím có vẻ ảm đạm như hôm nay.
Để mời gọi tín hữu tỉnh thức sẵn sàng, Mẹ Hội thánh giới thiệu cho chúng ta những bài đọc Thánh Kinh trong các thánh Lễ của mùa Vọng luôn ẩn tàng niềm vui. Vui vì dân Chúa sắp được giải phóng khỏi ách nô lệ, lưu đày. Vui vì viễn cảnh hoà bỉnh, công lý, tình thương đang đến gần. Người ta sẽ lấy giáo mác rèn nên lưỡi hái lưỡi liềm. Hoà bình và công lý sẽ giao duyên. Trẻ thơ sẽ vui đùa giũa các dã thú…Nhất là vui vì Chúa sắp đến cứu độ chúng ta.
Quả thật, lấy niềm vui, hạnh phúc để khuyến dụ người ta tỉnh thức sẵn sàng vừa đẹp vừa dễ hơn là lấy tai hoạ để doạ dẫm người ta. Ước gì niềm vui, niềm hạnh phúc ấy không ở đâu xa nhưng là ngay trong nghĩa tình huynh đệ của những người mang danh Kitô hữu, một nghĩa tình vốn đã từng khiến cho nhiều anh em lương dân hay người khác đạo thời giáo hội sơ khai mến thương, thán phục và xin gia nhập cộng đoàn (x.Cvtđ 2,42-47,4,32-35).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

Chúa Nhật I Mùa Vọng năm A : SỐNG TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG

Một năm Phụng Vụ lại đến. Thời gian cứ thế trôi đều theo nhịp dường như chẳng có gì mới dưới trần gian này. Đông qua, xuân đến, hạ đi, thu lại về. Hết mùa thường niên, đoàn tín hữu Kitô bước vào mùa Vọng, mùa Giáng Sinh. Tuy nhiên vẫn có đó cái gì mới lạ khi ta bước vào một điểm mốc của thời gian, cho dù đó chỉ là sản phẩm có tính quy ước của con người. Bắt đầu một chu kỳ mới, được gọi là năm dựa trên vòng xoay của vũ trụ nói chung, của thái dương hệ mặt trời và trái đất chúng ta nói riêng hay khởi đầu một chu kỳ lịch sử ơn cứu độ theo niên lịch Phụng vụ Kitô giáo, hẳn nhiên vẫn tiềm tàng một khao khát, ước mơ, hy vọng nào đó. Chắc chắn đó là những hy vọng, mơ ước về nhiều điều tốt đẹp, có thể là hợp lý, phải đạo, cũng có thể là không và không thể loại trừ những ước vọng cao cả.
Bước vào một chu kỳ mới của niên lịch Phụng vụ, Hội Thánh mẹ, trong năm Phụng vụ năm A này có vẻ hơi lạ thường khi mời gọi chúng ta hướng cái nhìn đến ngày chung cục của thế giới, của đời người chúng ta. Bài tin mừng theo thánh Matthêu tường thuật những lời cảnh báo của Chúa Giêsu về tính bất ngờ, đột ngột của cái ngày chung cục ấy. Đồng thời Người kêu gọi các khán thính giả lúc bấy giờ cũng như chúng ta hôm nay rằng hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Quy luật tự nhiên giúp ta thêm xác tín rằng sự gì khi đã có khởi đầu thì hẳn có lúc kết thúc.
Vòng đời “thành, trụ, hoại, không” của nhiều vật, nhiều loài hữu hình trước mắt chúng ta là một dấu chứng cho sự kết thúc của vạn vật nói chung và của đời người chúng ta nói riêng. Tuy nhiên điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh là tính bất ngờ. Hình ảnh cơn lụt đại hồng thủy thời Noe hay hình ảnh hai người đàn ông đang làm ruộng, hai người đàn bà đang xay bột, thì một người bị đem đi, một người bị để lại, tất thảy đều muốn mô tả sự bất ngờ. Khi nói đến sự bất ngờ người ta thường nói đến hệ quả của nó là sự mất mát, sự thiệt hại hơn là sự may mắn hay là được lợi, cho dù thỉnh thoảng nhiều sự may mắn có xảy đến cách bất ngờ như chuyện trúng số độc đắc. Để tránh những hệ quả xấu, di hại cho hạnh phúc chúng ta đời này, nhất là cho hạnh phúc vĩnh cửu mai sau, Chúa Giêsu lặp đi lặp lại là hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Vậy thế nào là thái độ biết sẵn sàng và tỉnh thức? Hội Thánh, qua bài đọc thứ nhất trích Sách Tiên tri Isaia và bài đọc thứ hai trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Roma, muốn trình bày hai phương thế sống tỉnh thức sẵn sàng, xét theo phương diện tiêu cực và tích cực.
1. Sống tỉnh thức sẵn sàng theo phương diện tiêu cực : Hãy loại bỏ những việc làm đen tối. Hãy dứt khoát với việc chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng, cãi cọ ghen tương. Không chiều theo tính tự nhiên mà thỏa mãn các dục vọng bất chính, đê hèn. Những hành vi bất chính, những thái độ bất xứng, những việc làm ám muội thường là những thái độ, hành vi, việc làm mà ta ít dám thể hiện công khai và thường không muốn cho ai hay, ai biết, ngoại trừ người đồng lõa, người tòng phạm.
Để sống tỉnh thức sẵn sàng theo nghĩa này thì xin hãy nhớ rằng không có sự gì mà sẽ không bị tỏ lộ. Chúng ta có thể che giấu một người nhiều lần. Chúng ta cũng có thể che giấu nhiều người một vài lần. Nhưng chúng ta khó mà che giấu mọi người nhiều lần. Nhất là chúng ta không thể nào che giấu được Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn tâm can con người, từn người và mọi người (x.Tv 139)
Để sống sẵn sàng tỉnh thức theo ý hướng này không gì hơn hãy minh bạch hóa các việc làm của ta. Một người không ngần ngại công khai hóa các lời nói, tâm tư và hành động của mình thì sẽ tránh được nhiều sai sót, lỗi lầm. Và nếu có lỡ lầm hay sai sót thì cũng sẽ dễ có cơ hội khắc phục, sữa sai nhờ tha nhân góp ý, nhận định, phê bình.
2. Sống tỉnh thức sẵn sàng theo phương diện tích cực: Lấy gươm đao rèn thành cuốc thành cày; lấy giáo mác đúc thành liềm, lưỡi hái. Một động thái tích cực thật tuyệt vời. Đó là quay ngược 180 độ các xu hướng xấu xa, các việc làm ám muội, các hành vi gian ác. Một ngày kia, người ta hỏi văn hào Bernard Shaw, một văn hào rất thông minh và dí dỏm trong lối ứng xử: Nhờ đâu, và bằng cách nào ngài có được những câu ứng xử vừa thông minh vừa dí dỏm như thế? Có gì đâu. Tôi cứ tưởng tượng ra một câu nói thật ngu ngốc và nhạt nhẽo, rồi tôi tìm cách nói ngược lại.
Ai trong chúng ta lại không có những điểm yếu, những nghiêng chiều bất chính, những thói quen không tốt, chẳng hay, nếu chưa muốn nói là xấu xa? Ai trong chúng ta lại không có những tội lỗi mà nếu công khai ra thì thật ngượng ngùng? Ai trong chúng ta lại không có những lầm lỗi hay tái phạm nhiều lần, khó chữa, khó chừa? Cứ vạch rõ chúng ra rồi hãy làm điều ngược lại. Giả như tôi có tật xấu hay bủn xỉn, keo kiệt về tiền bạc thì ước gì tôi tích cực tập chia sẻ cho tha nhân cách cụ thể bằng những đồng tiền rút từ hầu bao của tôi.
Kinh “Cải tội bảy mối, có bảy đức” chúng ta dường như thuộc nằm lòng. Kinh ấy có ra không phải là để chỉ đọc trong các ngày Chúa Nhật và Lễ trọng mà là để chúng ta sống. Có thể nói một cách chắc chắn rằng những ai sống nội dung kinh “Cải tội bảy mối…” là đang thật sự tỉnh thức và sẵn sàng.
Người đang sẵn sàng và tỉnh thức thì không có gì là đột ngột hay bất ngờ mà là luôn trong tư thế chuẩn bị và đón chờ. Người biết đón chờ trong tư thế chuẩn bị thì hẳn sẽ gặp nhiều may lành khi giờ Chúa đến. Nói đến giờ Chúa gọi thì có thể có người cho là còn xa. Nhưng chắc chắn người biết chuẩn bị và đón chờ thì sẽ gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp trong dịp kỷ niệm Chúa Kitô đến thế gian lần thứ nhất là Đại Lễ mừng Chúa Giáng Sinh.

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Chúa Nhật XXXIV TN C - Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ : DÂN VI QUÝ

Hằng năm vào ngày Chúa Nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, giáo hội hiệp với toàn thể vũ hoàn suy tôn Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Đức Kitô và cho Đức Kitô, Người Con chí ái của Thiên Chúa (x.Col 1,16). Khi suy tôn Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ, giáo hội muốn khẳng định chân lý mà thánh tông đồ dân ngoại đã nói với tín hữu Côlôxê, đó là mọi sự trên trời cùng dưới đất đều được Thiên Chúa tạo thành nhờ Đức Kitô và cho Đức Kitô. Chúa Kitô không chỉ là nguyên lý và là cứu cánh của mọi hiện hữu mà Người còn là khuôn mẫu của mọi vật mọi loài, vì người là Trưởng tử của mọi loài thọ sinh.

Loài người là loài cao trọng nhất trong các loài thọ tạo hữu hình. Thánh Kinh minh định chân lý này qua việc bàn bạc của Thiên Chúa trước khi tạo dựng con người và sự lao nhọc của Thiên Chúa khi dựng nên con người. Các loài thọ tạo khác thì Thiên Chúa chỉ phán một lời thì liền “xẩy ra như vậy”. Sự cao trọng của con người còn được khẳng định khi nó được dựng nên “giống hình ảnh” của Đấng Tạo Thành và được trao quyền làm chủ vũ trụ vạn vật (x.St 1,26-29). Hình ảnh của Đấng vô hình nay đã được mạc khải cách hoàn hảo và rõ nét nơi chính Đức Kitô (x.Col 1,15).

Suy tôn Chúa Kitô là Vua vũ trụ, giáo hội không chỉ khẳng định quyền tối thượng của Chúa Kitô trên mọi loài mà còn tuyên xưng Chúa Kitô chính là khuôn mẫu, là lẽ sống của mọi hiện hữu, nhất là của loài người. Qua các bài đọc của Chúa Nhật XXXIV TN C mà giáo hội cho trích đọc chúng ta nhận ra khuôn mẫu, lẽ sống mà Đức Kitô tỏ bày đó là hiện hữu cùng và hiện hữu cho.

“Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai và người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1,23). Khi vào trần gian, Đức Kitô đã mạc khải cho nhân loại chúng thấy ý nghĩa của các hiện hữu là hiện hữu trong tương quan. Mọi thụ tạo, nhất là loài người, không ai là một hòn đảo. Ta chỉ là ta trong tương quan với người. Có người thì mới có ta. Trong mối tương quan gia đinh dòng tộc, cha ông chúng ta có câu ngạn ngữ rất tượng hình: có con rồi mới có cha, có cháu rồi mới có ông, có bà.

Mối tương quan “cùng-với” này vừa nói lên sự tuỳ thuộc vừa nói lên sự liên đới giữa các hiện hữu. Nhiều muông thú hay vật nuôi như chim, gà, mèo, chó…, khi được nuôi riêng một mình thì chúng vẫn phát triển thành chúng, trái lại, con người không thể lớn lên, phát triển thành người cách đúng nghĩa khi sống một mình. Hiện tượng “người rừng” đó đây, không có khả năng nói, không có khả năng giao tiếp với đồng loại…là một minh chứng. Chúng ta làm người, chào đời, có mặt ở trần gian này là nhờ ai đó và với ai đó. Vì thế có thể nói rằng một trong những mục đích và ý nghĩa nền tảng của sự hiện hữu của con người đó là sống cùng, sống với và sống cho.

Cả cuộc đời của Đức Kitô trên trần gian, rõ nét nhất là quảng thời gian rao giảng Tin mừng và đích diểm là cái chết trên thập giá khẳng định cho chúng ta về mục đích ý nghĩa của kiếp nhân sinh. Đức Kitô là Đấng đi đến đâu thì giáng phúc thi ân đến đó (x.Cvtđ 10,38). Và chính Người đã minh định rõ ràng: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28).

Trên đỉnh đồi Gôngôta, dù có thể tự cứu mình khỏi án hình thập giá, nhưng Chúa Kitô đã không tự cứu mình. Dù không tìm cách tự cứu mình thế mà Người đã hứa ban hạnh phúc Thiên đàng cho người bị treo bên phải Người, đồng thời xin Chúa Cha tha cho những người đang phỉ nhổ, hành hạ và giết mình mà trong số đó chắc chắn có cả người gian phi bị treo bên trái Người (x.Lc 23,39-43).

Hình ảnh của một vị minh quân theo quan niệm người xưa đó là người lo trước cái lo của thiên hạ và vui sau cái vui của thiên hạ. “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Hình ảnh vị minh quân này đã được Chúa Kitô thể hiện bằng vị mục tử nhân lành sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì đàn chiên và vì từng con chiên một. Xuất thân từ một người chăn chiên, Đavít đã được chọn gọi để làm vua Israel. Dù còn nhiều thiếu sót và lỗi lầm tày trời, nhưng Đavít chính là một hình ảnh tiên báo cho vị Mục Tử Nhân lành, vị Vua Công chính là Đức Kitô, Đấng đã dùng tình yêu của mình để dẫn đưa mọi thụ tạo, nhất là loài người về với sự thật căn bản: chúng ta là loài thụ tạo, chúng ta sẽ chỉ là mình khi hiện hữu đúng với thánh ý Đấng Tạo Thành đó là sống cùng và sống cho tha nhân.

Dỏng dạc trước Philatô, Chúa Kitô minh nhiên công bố: “Tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật, thì nghe tiếng tôi”(Ga 18,37). Và sự thật ấy được tỏ bày cách hoàn hảo bằng một Con Người chịu treo trên thập giá, với trái tim bị đâm thâu, hầu đưa toàn thề nhân loại đi lên và những ai tin vào Người thì sẽ được sống muôn đời (x.Ga 3,14-15), đồng thời làm cho muôn vật muôn loài được hòa giải với Thiên Chúa (x.Col 1,20).

Suy tôn Chúa Kitô là Vua tức nhìn nhận quyền tối thượng của Người trên đời chúng ta, là đón nhận lẽ sống, quy luật hiện hữu mà Người đã ban ra. Chúng ta có thể nhận ra quy luật ấy qua lời khẳng định của Chúa Kitô: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy…( Mc 8,34-38; Mt 16,24-28; Lc9,23-27).Và đến ngày tận thế, chính Đấng là Vua Vũ Trụ, khi “ngự trên ngai vinh hiển của Người” sẽ thẩm xét chúng ta dựa trên tiêu chí là thái độ sống cùng, sống cho tha nhân của chúng ta, đặc biệt cho những người anh em “bé mọn” (x.Mt 25,31-46).

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột.

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

Ai là mục tử? Đàn chiên thuộc về ai?

Ga 10,11-18

Bản văn (Lê Minh Thông dịch sát bản văn Hy Lạp)

Đức Giê-su nói với những người Pha-ri-sêu:

11 Chính Tôi là mục tử tốt. Mục tử tốt hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên.

12 Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình. Thấy sói đến, anh ta bỏ đàn chiên mà chạy - và sói vồ lấy chúng và làm tán loạn -.

13 Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên.

14 Chính Tôi là mục tử tốt. Tôi biết chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết Tôi,

15 như Cha biết Tôi, và Tôi biết Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên.

16 Tôi còn có những chiên khác, chúng không thuộc ràn này. Tôi cũng phải dẫn dắt chúng và chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ làm thành một đàn chiên, một mục tử.

17 Vì điều này mà Cha yêu mến Tôi: Tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại nó.

18 Không ai lấy nó khỏi Tôi, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh nó. Tôi có quyền hy sinh nó và Tôi có quyền lấy lại nó. Tôi đã nhận mệnh lệnh này từ nơi Cha của Tôi.”





Chia sẻ

Đức Giê-su là mục tử tốt, Người là mục tử duy nhất của đàn chiên. Khi tham gia nhiệm vụ chăn dắt trên nhiều cấp độ khác nhau trong Hội Thánh, chúng ta dễ quên là chỉ có một mục tử duy nhất là Đức Giê-su. Những người có nhiệm vụ chăn dắt trong cộng đoàn là những người được Đức Giê-su giao phó nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên của Người. Đàn chiên đó thuộc về Đức Giê-su. Sở hữu đàn chiên là Đức Giê-su, vì chỉ một mình Người là mục tử tốt, chỉ một mình Người có khả năng “hy sinh và lấy lại mạng sống mình” vì yêu mến đàn chiên.

Xin chia sẻ đôi nét về tư cách mục tử của Đức Giê-su và về vai trò người chăn dắt trong cộng đoàn Hội Thánh.

Trước hết, người ta thường gọi Đức Giê-su là “Mục tử nhân lành” cách nói này chưa diễn tả hết ý nghĩa, vì có thể chỉ dừng lại ở nghĩa “hiền lành”, “tốt lành”. Trong khi, bản văn Hy Lạp dùng tính từ “tốt” (kalos). “Mục tử tốt” không chỉ là “tốt lành”, “hiền lành”, mà điều quan trọng hơn là “tốt” về phẩm chất. Người mục tử tốt là người có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của nhiệm vụ chăn dắt và chu toàn tốt đẹp vai trò mục tử.

Khẳng định của Đức Giê-su: “Chính Tôi là mục tử tốt” là kiểu nói đặc trưng của thần học Gio-an. Đức Giê-su là ánh sáng, là bánh, là cây nho đích thực, là cửa ràn chiên, là mục tử tốt. Tính từ “tốt” cho phép phân biệt với tất cả các mục tử khác trong Cựu Ước. Trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su không so sánh mình với các mục tử khác, bởi vì Người là mục tử duy nhất của đàn chiên.

Đức Giê-su là mục tử tốt, vì Người hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên (10,11). Lời này lạ lùng và nghịch lý. Nếu mục tử chết, đàn chiên cũng chết. Vì không có ai bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói dữ. Trên thực tế, người mục tử phải tìm mọi cách để sống còn. Dù phải đối diện với nguy hiểm, người mục tử khôn ngoan là người bảo toàn được mạng sống của mình, như thế mới có thể bảo vệ đàn chiên. Bởi vì, sự sống còn của đàn chiên lệ thuộc vào sự sống còn của mục tử. Người mục tử tốt là người “sống vì đàn chiên”, chứ không phải là người “hy sinh mạng sống mình”, theo nghĩa “chết vì đàn chiên” như Đức Giê-su nói.

Thực ra, cuối đoạn Tin Mừng, sự sống của Đức Giê-su được đề cao. Người khẳng định: “Tôi có quyền hy sinh mạng sống mình và có quyền lấy lại nó”. Lời này ám chỉ Đức Giê-su sẽ chiến thắng sự chết. Biến cố Phục Sinh làm cho Người trở thành mục tử duy nhất. Người đang sống. Chính Người bảo vệ đàn chiên, ban sự sống đích thực cho đàn chiên và làm cho đàn chiên được sống dồi dào (10,10).

Nhưng tại sao Đức Giê-su lại hướng về sự chết khi khẳng định ngay từ đầu đoạn Tin Mừng: “Mục tử tốt hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên” (10,11)?

Trong bối cảnh văn chương của Tin Mừng thứ tư, đoạn văn 10,11-18 ở vào cuối sứ vụ công khai, những kẻ chống đối Đức Giê-su đã và đang tìm cách giết Người; sứ vụ công khai của Đức Giê-su đang dần dần khép lại. Vì thế, đoạn văn 10,11-18 nhằm xác định vai trò của Đức Giê-su đối với những ai tin vào Người. Người là mục tử tốt, Người tự ý hy sinh mạng sống mình và Người có quyền lấy lại nó. Nhờ đó, Người có khả năng ban sự sống cho đàn chiên.

Bầu khí xung đột bộc lộ trong cách Đức Giê-su dùng hình ảnh “người làm thuê”. Ai là những kẻ làm thuê? Tin Mừng cho phép hiểu Đức Giê-su ám chỉ giới lãnh đạo Do-thái đang tìm cách giết Người, đó là những người Do-thái, những người Pha-ri-sêu, các thượng tế, họ là những người được giao nhiệm vụ chăn dắt dân. Các sách Cựu Ước gọi họ là mục tử, nhưng Đức Giê-su tước mất quyền đó khi nói: “Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình… Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên” (10,12-13).

Chính trong bối cảnh những kẻ chống đối đang tìm cách giết Đức Giê-su mà Người nói đến việc “hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”. Hoa trái của sự “hy sinh và lấy lại mạng sống” này là phổ quát. Vì qua đó, Đức Giê-su quy tụ tất cả con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi về thành một đàn chiên, một mục tử (10,16; 11,52).

“Một đàn chiên, một mục tử” (10,16) là khẳng định thần học quan trọng, mà nhiều lúc những người có nhiệm vụ chăn đắt xem nhẹ. Cuối Tin Mừng Gio-an (21,15-17), ba lần Đức Giê-su hỏi Phê-rô: “Anh có yêu mến Thầy không?”, chỉ sau khi Phê-rô trả lời “Thầy biết con yêu mến Thầy”, Đức Giê-su mới trao sứ vụ chăn dắt: “Anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy”.

Kiểu hành văn này cho thấy: Đàn chiên, bao gồm mọi người tin, là của Đức Giê-su. Các chủ chăn trong Hội Thánh là những người được Đức Giê-su giao phó nhiệm vụ chăn dắt và chăm sóc đàn chiên của Người. Đàn chiên là của Đức Giê-su chứ không phải của bất kỳ ai khác.

Câu hỏi đặt ra: Để có thể chăn dắt đàn chiên của Đức Giê-su phải có điều kiện nào? Ngoài những đòi hỏi mang tính pháp lý như được huấn luyện, lãnh tác vụ, điều cốt lõi là “tình yêu dành cho Đức Giê-su”. Ba lần, Phê-rô tuyên xưng tình yêu dành cho Đức Giê-su trước, sau đó mới được Người giao sứ vụ chăn dắt. Như thế, tình yêu dành cho Đức Giê-su là nền tảng làm nên bản chất của người chăn dắt. Có thể nói, khi người chăn dắt không thực sự yêu mến Đức Giê-su nữa, thì ngay lúc đó, người ấy không còn tư cách để chăn dắt đàn chiên của Đức Giê-su nữa. Bởi vì, chính tình yêu dành cho Đức Giê-su là bản chất và là căn tính của sứ vụ chăn dắt.

Thánh Augustinô diễn giải lời Đức Giê-su nói với Phê-rô ở Ga 21,15-17 như sau:

“Nếu anh yêu mến Thầy, anh đừng nghĩ anh là mục tử; nhưng anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy, như chúng là của Thầy chứ không phải như chúng là của anh; anh hãy tìm kiếm nơi đàn chiên vinh quang của Thầy chứ không phải vinh quang của anh; sở hữu của Thầy, chứ không phải sở hữu của anh, lợi ích của Thầy, chứ không phải lợi ích của anh.”

Xin cho sứ điệp của bài Tin Mừng giúp chúng ta sống đúng vị trí và vai trò của mình khi tham gia vào nhiệm vụ chăn đắt ở nhiều cấp độ khác nhau trong cộng đoàn Hội Thánh. Điều quan trọng hơn cả là “yêu mến Đức Giê-su” và từ đó chăn đắt đàn chiên được giao phó bằng chính tình yêu mà Đức Giê-su là vị mục tử quy nhất đã dành cho mình và dành cho đàn chiên của Người./.

Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

Bài đăng xem nhiều nhất :