Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

Free eBooks

Bartleby Library
Provides access to reference works such as the Columbia Encyclopedia, the American Heritage Dictionary and the Roget's Thesaurus. It also contains ebooks on history, verses and quotations, cooking, as well as works by selected authors.
Council on Library & Information Resources (CLIR)
Provides access to full-text reports, white papers, newsletters and research briefs on library and information-related topics.
Ebrary
Provides freely viewable books on selected topics. Requires the free ebrary Reader for browsing and searching the text.
Electronic Text Center
Contains over 1,800 publicly available ebooks including classic British and American fiction, major authors, children's literature, the Bible, Shakespeare, American history, African-American documents. Text is accessible in HTML (web version) for online viewing, and can be downloaded as both a MS Reader E-book for the Microsoft Reader and a Palm-readable text for the Palm Reader.
eserver.org
Based at the Iowa State University, this website attempts to provide an alternative niche for quality work. The collection includes collections works on contemporary art, race, Internet studies, sexuality, drama, design, multimedia, accessible publishing and current political and social issues. In addition to written works, it also provides audio and video recordings.
Fliplibrary.com
Provides access to over 2,500 eText books searchable by keywords, author, title and categorized into various subjects such as Fiction, Natural History, Poetry, Drama, Science, Technology, Religion, etc.
Internet Public Library
The Reading Room provides a searchable annotated catalog of books, magazines and newspapers freely available over the Internet.
National Academies Press
Offers over 3,000 books freely available online. The books are categorized into various subjects, and can also be searched by title or text using their search engine.
netLibrary
Offers over 3,400 ebook titles for free, in addition to the titles which the Library subscribes.
The On-Line Books Page
contains a searchable listing of over 20,000 ebooks available on the Internet for free. Created and maintained by John Mark Ockerbloom at the University of Pennsylvania.
Project Gutenberg
Makes available public domain publications in ASCII text format. Included are light literature, like Alice in Wonderland and Aesop's Fables, heavy literature such as Shakespeare's plays and reference materials like Roget's thesarus. The files are for downloading and viewing offline.

Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2010

LÊN ĐƯỜNG

Hai từ lên đường khiến ta liên tưởng đến một hành trình mà dĩ nhiên đã là hành trình thì có điểm xuất phát và đích đến. Kitô hữu, cách riêng hàng tu sĩ linh mục giám mục được mời gọi lên đường theo Chúa Kitô cách rõ nét và đặc thù hơn. Đã lên đường thì ai cũng mong đến đích. Để đến đích thì không thể không nhắm hướng đi, tìm cách thế đi và chọn phương tiện để đi.
“Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em…” (Ga 20,21). Để lên đường và đi đến đích, thì không gì hơn là dỏi theo chân Chúa Kitô. Cùng với Chúa Kitô, đặc biệt qua các mầu nhiệm chính trong công cuộc cứu độ của người chúng ta xuất hành:
1. Sống mầu nhiệm tự hủy: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Phil 2,6-7). Điều kiện tiên quyết của mọi cuộc lên đường như Chúa Kitô đó là ra đi. Ra đi ở đây không chỉ là rời khỏi nơi chốn mình đang ở mà còn ra khỏi vai vế, phận vị của mình để hội nhập với nơi mình đến, để nên đồng hình đồng dạng với những người mình gặp gỡ. Quả thật vẫn có đó nhiều người lên đường với mớ hành trang cồng kềnh là thân thế, là địa vị… Nói như thế thì phải chăng chúng ta sẽ đánh mất chính mình khi bị đồng hóa? Những lời cảnh tỉnh như: “hòa đồng mà không bị đồng hoá; hội nhập mà không hoà tan nghĩa là không đánh mất căn tính” luôn có đó giá trị. Quả thật, mọi công cuộc lên đường sẽ thành tro bụi khi chúng ta đánh mất chính mình. Làm người giống chúng ta mọi đàng nhưng Chúa Kitô vẫn là Thiên Chúa bằng mầu nhiệm Ngôi hiệp.
2. Sống mầu nhiệm Ngôi hiệp: Đến thế gian, Chúa Kitô không đánh mất bản tính Thiên Chúa của Người. Khi tuyên xưng Chúa Giêsu chỉ có một Ngôi Vị duy nhất là Ngôi Hai Thiên Chúa và Người có hai bản tính là bản tính Thiên Chúa và bản tính loài người, thì giáo hội khẳng định Chúa Kitô khi vào trần gian đã mặc lấy thêm bản tính nhân loại vào Ngôi vị Thiên Chúa của Người. Những gì Giêsu Kitô làm là chính Thiên Chúa (Ngôi vị) làm. Chính vì thế tất cả những hành vi của Chúa Giêsu từ khi nhập thể, hạ sinh, ẩn dật, rao giảng tin mừng đến cuộc tử nạn phục sinh và lên trời vinh hiển đều mang giá trị cứu độ, vì là những hành vi của một Thiên Chúa.
Sống mầu nhiệm Ngôi hiệp thì khi lên đường đến với tha nhân, chúng ta sẽ không đánh mất căn tính Kitô, căn tính linh mục hay tu sĩ của mình. Lên đường, đến với tha nhân trong vai vị một nhà giáo, một nông dân, một lương y… cũng khám chữa bệnh, cũng giảng dạy, cũng chăn nuôi hay trồng trọt…mà với tư cách là Kitô hữu, là linh lục hay tu sĩ thì giá trị sẽ nhân lên gấp bội.
3. Sống mầu nhiệm cứu chuộc: “Con Người đến thế gian không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”(Mt 20,28). Trở thành Do Thái với người Do Thái, trở thành Hy lạp với người Hy lạp là để phục vụ họ cách hữu hiệu và đến cùng. Sự phục vụ này phải sinh hiệu quả là cứu sống người mình phục vụ và giúp họ ngày càng sống dồi dào hơn (x.Ga 10,10).
Không phải theo chủ nghĩa duy hiệu năng, nhưng một trong những dấu chỉ để thẩm định cuộc lên đường của chúng ta ra sao thì hãy xét xem những người, những tập thể mà chúng đến ở cùng, có phát triển toàn diện, ngày càng nên tinh tuyền và hoàn thiện hơn không?
4. Sống mầu nhiệm phục sinh, vinh thăng của Chúa Kitô: Sau khi phục sinh vinh hiển, Chúa Kitô đã về trời ngự bên hữu Chúa Cha. Mầu nhiệm vinh thăng của Chúa Kitô khẳng định căn tính của Người là Thiên Chúa thật, Đấng không thể bị khuất phục bởi thần chết. Chúa Kitô về trời ngự bên hữu Chúa Cha nghĩa là Người lấy lại vinh quang danh dự của một vị Thiên Chúa, có từ ngàn đời với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Trong Chúa Kitô, Đấng ngự bên hữu Chúa Cha luôn có những gì là của nhân trần, qua bản tính nhân loại mà Người đã nhận lấy khi vào trần gian.
Kitô hữu lên đường, ra đi để rồi đưa tất cả các thực tại gian trần lên cùng Thiên Chúa. Điều này muốn khẳng định rằng cùng đích của việc lên đường của Kitô hữu, của tu sĩ, linh mục hay giám mục là để vĩnh hằng hoá các thực tại hữu hạn chóng qua đời này. Chúng ta vĩnh hằng hoá các thực tại trần gian này bằng chính tình yêu mà chúng ta đã nhận lấy từ Đấng Cứu độ. Cũng là chuyện ăn, uống, sinh hoạt, lao tác…nhưng khi được đượm thắm tình yêu thì chúng sẽ nên vĩnh tồn nếu chúng ta sống lời thánh Phaolô tông đồ: “Dẫu khi ăn, dẫu khi uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm vì danh Đức Kitô”.
Một vấn nạn thời sự: Vì sao bề trên các dòng tu, giám mục các giáo phận ở Việt Nam hiện nay dường như ngại ngần sai các thành viên dưới quyền lên đường, đặc biệt đến những nơi với những hoàn cảnh có thể gọi là “như chiên giữa sói rừng”? Ngoài một vài lý do an ninh hay thủ tục hành chính, thì khi sai một ai đó lên đường thì các bề trên xem ra lo lắng nhiều chuyện như là chỗ ở, phương tiện đi lại, bề dưới còn hạn chế khả năng hay chưa đủ lòng nhiệt thành, lòng đạo đức…Trong nhiều lý do thì có lý do xem ra khá chính đáng và hợp lý đó là vì yêu thương bề dưới, sợ bề dưới ra đi lâm cảnh khó khăn cách này cách khác.
Không dám mạo phạm nhưng có lẽ có phần đúng đó là nếu ta còn ngại ngần sai người thuộc quyền ra đi có thể vì bản thân chúng ta chưa thực sự lên đường. “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em…” (Ga 20,21). Chúa Kitô mạnh dạn sai các môn đệ lên đường, ra đi là vì trước đó Người đã vâng lệnh Chúa Cha lên đường ra đi trong sự tự hạ, tự huỷ để sống yêu thương đến cùng.
Một Phanxicô Xavie can đảm lên đường đến với anh em Á châu là nhờ lệnh sai đi của một Inhaxiô. Inhaxiô mạnh dạn sai Phanxicô Xavie lên đường là vì trước đó Inhaxiô đã lên đường ra đi khỏi mộng ước vương bá trần tục. Các tu sĩ hội dòng Têrêxa Calcutta hăng hái lên đường phục vụ những con người bất hạnh, xấu số, bị bỏ rơi là tuân lệnh của mẹ Têrêxa, một phụ nữ nhỏ người nhưng đã mạnh mẽ ra đi, từ bỏ cả một cuộc sống tu trì đang yên ổn để sống yêu thương người khốn cùng một cách nào đó như Chúa Kitô đã yêu thương nhân loại. Cũng tương tự như thế, nhiều nhà truyền giáo can đảm lên đường vì đã nhận được lệnh sai đi của những đấng bậc đã biết sống tự huỷ một cách nào đó như Thầy chí thánh Giêsu.
Nếu như các đấng bậc bề trên các hội dòng, các giám mục giáo phận chân thành và trung thực để nói: “Như Chúa Kitô đã sai tôi (nghĩa là tôi đã lên đường, ra đi trong sự tự hạ, tự huỷ và bỏ mình để sống yêu thương phục vụ…), thì tôi sai anh em, chị em” thì thiết nghĩ chắc chắn sẽ có nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ và cả Kitô hữu giáo dân can đảm lên đường “như chiên giữa sói rừng”(Mt 10,16), để truyền giáo, sống yêu thương phục vụ tha nhân cho đến cùng.
Để điều này thành hiện thực thì chắc chắn cần có sự tín nhiệm của người truyền lệnh và người được sai đi. Ngoài ra cũng cần loại bỏ tâm lý cầu toàn để rồi biết can đảm đón nhận những trường hợp thất bại cách này cách khác. Tin mừng cho chúng ta hay trong số mười hai tông đồ và bảy mươi hai môn đệ được Chúa Giêsu sai đi đã có đó những trường hợp thất bại. Không nguyên chỉ theo kinh nghiệm con người “ thất bại là mẹ thành công”, chúng ta còn tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng có thể làm mọi sự tốt lành tư những vấp váp và cả tội lỗi của con người. Dĩ nhiên phần chúng ta, chúng ta phải hy vọng và làm hết sức có thể để những người ra đi sẽ không đánh mất căn tính của mình, nhưng đón nhận thân phận cũng như mọi cảnh huống của đồng loại để vĩnh hằng chúng trong tình yêu của Đức Giêsu Kitô, Đấng đang ngụ bên hữu Chúa Cha.
“Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14,18). Khi sai các môn đệ ra đi, Chúa Kitô đã tự nguyện ở cùng các ngài mọi ngày cho đến tận thế (x.Mt 28,20), cách đặc biệt bằng Thánh Thần mà Người ban tặng (x.Ga 20,22). Ước gì các tu sĩ nam nữ, các linh mục hay Kitô hữu giáo dân được sai đi không bao giờ vướng lấy mặc cảm là bị bỏ rơi, như là một thứ “con bị bỏ chợ”, nhưng luôn được người sai mình đi đồng hành với mình bằng cả tấm lòng, bằng sự sẻ chia cách này cách khác, đặc biệt là bằng tinh thần trách nhiệm như Đức Kitô, Đấng hằng tiếp tục chịu nộp vì chúng ta, chịu đổ máu đào ra để chúng ta và mọi người được thứ tha, được cứu sống.
Lm Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Chúa Nhật Trọng Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam : MỘT ƯỚC MƠ : SỐ THÁNH TỬ ĐẠO GIẢM DẦN

Chuyện thật như bịa: Nhân một dịp tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam, một giám mục Hàn Quốc nói với một giám mục Việt Nam rằng: chúc mừng giáo hội Việt Nam đã có nhiều thánh Tử Đạo được tôn phong. Rất tiếc, vua quan nước chúng tôi hiền quá. Một câu nói vừa phản ảnh một sự thật của lịch sử vừa khơi gợi cho chúng ta nhiều vấn đề nan giải. Một cái phúc lại được dệt xây bằng một hay nhiều cái hoạ ư? Để có được những vị Thánh Tử đạo thì dường như phải đánh đổi bằng sự hiện hữu của nhiều người “không hiền” ư? Khi những người “không hiền” lại nắm quyền cao, chức lớn thì không chỉ Kitô hữu bị bách hại mà dân chúng cũng lâm cảnh lầm than khốn khổ cách này cách khác.
Thế thì chúng ta giải thích thế nào về mối phúc thứ tám: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,10-12; x.Lc 6,22). Giáo hội khẳng định: “Các mối phúc là trung tâm lời rao giảng của Chúa Giêsu. Việc công bố các mối phúc là lặp lại lời hứa đã được ban cho dân Chúa chọn khởi từ tổ phụ Abraham. Các mối phúc kiện toàn các lời hứa này, bằng cách không còn chỉ hướng đến việc thừa hưởng một mảnh đất nữa, nhưng là hướng đến Nước Trời.”(GLCG số 1716) Như thế hạnh phúc thật được loan báo nằm ở vế sau, đó là Thiên Chúa, là Nước Trời chứ không phải ở vế trước là sự khó nghèo, hiền lành, sầu khổ hay sự bị bách hại… Như thế để đạt hạnh phúc thật thì có hàng trăm hàng vạn nẻo đường. Sự kiện mỗi thánh mỗi vẻ như trăm hoa đua nở cho chúng ta xác tín điều này. Nói như thế chúng ta có vô tình “hạ giá” vị trí và vai trò của các thánh tử đạo chăng? Xin thưa rằng hội thánh mãi luôn trân trọng và kính trọng các thánh tử đạo. Nhìn vào thứ tự hàng các thánh theo Phụng Vụ thì các thánh tử đạo chỉ xếp sau hàng các thánh tông đồ.
Tuy nhiên trong khi tôn vinh các anh hùng tử đạo, những vị cha ông đã đổ máu đào ra làm chứng cho đức tin và cũng để gieo mầm đức tin cho con cháu thì chúng thử hỏi rằng lòng các ngài có muốn cháu con phải chịu cảnh bách hại như tiên tổ chăng? Dĩ nhiên là không rồi. Chúa Kitô tự nguyện trở nên nghèo hèn để chúng ta được nên sang giàu. Người tự nguyện đổ máu đào ra để chúng ta được sống và sống dồi dào. Vậy chúng ta phải hiểu thế nào về lời khẳng định của Chúa Kitô: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,23-24)? Phải chằng Chúa Kitô muốn chúng ta phải chịu khốn khổ, phải chịu bắt bớ, chịu bách hại? Xin thưa rằng chẳng có người cha nào lại nhẫn tâm muốn con cái phải lâm cảnh khổ, chẳng có người anh nào lại muốn đàn em phải chịu truân chuyên, chẳng có người thầy nầo lại muốn môn sinh phải bị bách hại. Ngay đêm Tiệc Ly chính Chúa Kitô đã nài xin Chúa Cha gìn giữ những kẻ Chúa Cha ban cho Người và trong vườn dầu Người đã can thiệp để các môn đệ khỏi bị bắt (x.Ga 18,8).
Một hiện thực cần thú nhận rằng lắm khi chúng ta mong giáo hội có nhiều thánh tử đạo, chúng ta hô hào tha nhân, đòi hỏi người này người kia can đảm vác thập giá và thậm chí là chịu tử đạo còn chính chúng ta thì lại ngần ngại chịu hy sinh. Phải khẳng định rằng vị trí và vai trò của những vị tử đạo vẫn mãi cần thiết cho nhân loại nói chung và cho giáo hội nói riêng. Tuy nhiên theo thiển ý thì nên phát huy tinh thần tử đạo trong đời sống Kitô hữu hơn là mong có nhiều người tử đạo theo nghĩa hẹp. Thập giá mà Chúa Kitô muốn mỗi người chúng ta vác lấy để theo chân Người đó là những hy sinh khi muốn sống đạo yêu thương đến cùng, khi can đảm bảo vệ công lý, khi mạnh dạn rao truyền chân lý… Những hy sinh ấy được Chúa Kitô nói rõ đó là sự từ bỏ chính mình, nghĩa là từ bỏ những gì mang tính vị kỷ.
“ Thầy mang lửa xuống thế gian và Thầy mong mỏi cho lửa ấy được cháy lên” (x.Lc 12,49). Đây là ngọn lửa tình yêu vị tha, ngọn lủa làm bừng sáng tình hiệp thông, tình liên đới tương thân tương ái. Để ngọn lửa này cháy lên thì ắt phải chịu “một phép rủa” đó là sự bỏ mình, hy sinh cái tôi ích kỷ. Khi mỗi người sống vì mọi người thì mọi người sẽ vì mỗi người. “Nước trời ở giữa các ngươi” (x.Lc 17,21). Thiên đàng đang hiện diện ở đây và ngay hôm nay.
Một ước mơ nhỏ đó là số các thánh tử đạo ngày càng giảm dần nghĩa là số những người cao chức, nhiều quyền “không hiền” ngày càng ít đi. Cảnh thái bình thịnh trị mở ra, hoà bình và công lý được thực thi, người người yêu thương nhau trong sự kính trọng cái khác biệt của nhau. Số thánh tử đạo giảm dần nhưng tinh thần tử đạo ngày càng phát triển. Vì yêu, chúng ta sẵn sàng đón nhận mọi gian khổ và hy sinh, không như là cái giá phải trả nhưng như là điều phải vượt qua. Hiểu được điều này thì chúng ta mới cảm được sự nhẹ nhàng và êm ái của cái ách Tin mừng, của cái gánh bác ái là yêu thương nhau như Chúa Kitô đã yêu thưong chúng ta (x.Mt 11,28-30).
Ước mơ chỉ là ước mơ. Niềm mơ ước trên đây chắc chắn chỉ thành hiện thực khi đến thời cánh chung. Dòng thời gian lữ thứ vẫn còn chảy không biết khi nào ngưng. Thế nhưng xin đừng hô hào hay đòi hỏi tha nhân chịu tử đạo thay mình. Góp một chút hy sinh trong hoàn cảnh và khả năng của mình để làm chứng cho công lý, cho tình yêu, cho sự thật chính là một trong những cách thế biến ước mơ này thành sự thật. Góp một chút nỗ lực hy sinh để giúp những người quyền cao chức trọng ngày càng “hiền” hơn, công minh liêm chính hơn. Và nếu cần thì sẵn sàng tìm cách đưa những người cố tình “không chịu hiền”, hành xử cách độc quyền, độc đoán xuống khỏi chức vụ cao đang đảm nhận. Tuy nhiên cần lưu ý rằng thái độ hy sinh ở đây phải đượm tinh thần các thánh tử đạo đó là đón nhận hy sinh trong an bình, thanh thản, không chút hận thù oán ghét. Vì rằng đã từng có đó nhiều bậc anh hùng quốc gia dân tộc không quản ngại gian khổ và hy sinh cả tính mạng vì lý tưởng cao đẹp nhưng còn vương vấn sự hận thù.
Xin tri ân các anh hùng tử đạo cha ông tiên tổ. Nhưng xin các Ngài cầu bàu cùng Thiên Chúa cho cháu con thoát khỏi cảnh khổ luỵ các Ngài đã đi qua. Phận cháu con nguyện một lòng phát huy tinh thần “chứng nhân” của các bậc tiền nhân bằng tình yêu thuơng phục vụ tha nhân không ngần ngại “hy sinh-bỏ mình” cho đến cùng.
Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

Chúa Nhật XXXII Thường Niên C : THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG

“Cuộc đời con người không phải là một hành trình đi từ chiếc nôi đến ngôi mộ mà là một quá trình đi từ hữu hạn đến vĩnh hằng”. Trên đây là câu nói của một bạn trẻ Công giáo trong một dịp hội thảo về ý nghĩa của cuộc đời. Chắc hẳn để có được câu nói này thì các bạn trẻ, cách riêng các bạn trẻ Việt Nam, những người dù đang gặp nhiều khó khăn khi hướng về tương lai, nhưng một cách nào đó vẫn có một khát khao cháy bỏng vươn lên và tồn tại.
Có cuộc sống đời sau hay không? Một nhóm người phái Sađốc đã đặt ra cho Chúa Giêsu một vấn nạn qua một câu chuyện tưởng chừng như bịa, nhưng không phải là không thể xảy ra. Đâu cần đến cả thảy bảy anh em trai cùng cưới một phụ nữ theo tập tục vốn đã thành luật của người Do Thái thời bấy giờ, ngay hôm nay vẫn có đó nhiều người tái hôn cách hợp pháp khi người phối ngẫu trước đã qua đời. Thế thì đến ngày sau giải quyết tình trạng hôn nhân của họ ra sao đây? Không lẽ ngày sau thì được phép sống cảnh chồng chung vợ chạ hay sao? Dĩ nhiên theo giáo lý Công giáo, khi chuyện đã là phi pháp ngay ở đời này thì sẽ không có chuyện ấy ở đời sau.
Xét về mặt luận lý thì chúng ta không thể phủ nhận một điều gì đó khi trí khôn chưa rõ hoặc hầu như khó mà hiểu biết thấu đáo. Chẳng hạn khi chưa hiểu rõ cấu trúc vận hành của một thiên thể nào đó hay một loại virus nào đó thì không thể tiên thiên khẳng định là chúng không hiện hữu. Một số người chủ trương rằng cái gì hợp lý hay hữu lý mới hiện hữu, thì chỉ có thể hiểu sự hữu lý theo khía cạnh nội tại của chính hữu thể chứ không phải theo lôgich của luận lý con người. Tuy nhiên ở đây chúng ta cần chân nhận một thực tế này: Nhiều người phủ nhận một sự thật nào đó không phải vì chính sự thật ấy xem ra không hữu lý nhưng vì sự thật ấy đụng chạm đến lối sống của mình, và rất nhiều khi sự thật ấy một cách nào đó tố cáo lối sống chưa chính đáng và phải đạo của mình.
Nhóm Sađốc vốn là những người thuộc hàng tư tế chủ trương thoả hiệp với chính quyền thời bấy giờ. Thời nào cũng thế, khi thoả hiệp, thân thiện với chính quyền thì sẽ hưởng được nhiều danh vị, lợi lộc mà có khi là bất minh và bất chính. Một khi lòng đã dính bén với của tiền, danh vọng đời này thì ít có ai dám nghĩ đến ngày phải xa, phải mất chúng. Không tin vào sự sống lại, không tin vào sự sống ngày sau, thực ra nhiều khi chỉ là một cách biện bạch cho lối sống tham danh, hám lợi cách bất chính mà thôi. Nếu chết là hết, nếu không có đời sau thì cớ sao chúng ta không tìm mọi cách vơ vét của tiền, danh vị để hưởng thụ ở đời nầy?
Thế nhưng, những người chủ trương rằng không có đời sau thì dường như lòng họ vẫn mãi không yên. Ngay sự kiện họ cố tìm cách biện minh cũng đủ minh chứng cho sự thật này. Và đặc biệt những khi họ đối diện với sự dữ, nhất là với nấm mộ gần kề thì sư băn khoăn ấy càng mãnh liệt bội phần. Không, không một ai có thể dập tắt khát vọng sống mãi nơi lòng mình. Ngay cả những người tìm đến cái chết bằng sự tự vẫn thì cũng là một hình thái của khát vọng được sống tốt đẹp và vĩnh tồn mà không có lối thoát.
Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Một câu khẳng định rõ ràng về các hiện hữu, nhất là về sự hiện hữu của con người. Công cuộc của Đấng hằng sống phải là những gì mãi tồn tại. Dĩ nhiên hình thức tồn tại có thay đổi theo thời gian và theo quy luật Thiên Chúa đặt định. Ánh sáng đức tin qua Lời mạc khải cho chúng ta thấy sự chết chỉ là cánh cửa để bước qua một cõi sống khác mà chúng ta gọi là sự sống đời sau. Đã có sự sống đời sau thì hẳn có sự sống lại, không phải là lấy lại sự sống như ở đời này nhưng được biến đổi và theo một quy luật khác. Chúa Kitô dùng kiểu nói “như các Thiên Thần” để ám chỉ hình thái hiện hữu này. Khi đã tin có đời sau thì chắc hẳn phải tin có sự xét xử và thưởng phạt công minh.
Giữa cuộc sống, cách sống và niềm tin có mối tương quan hữu cơ và cách nào đó có thể gọi là tương quan biện chứng. Vì tôi tin chỉ có đời này mà thôi nên tôi phải tìm cách để tận hưởng các thiện hảo đời này bất chấp mọi phương thế, cho dù nhiều khi là bất chính. Trái lại khi quá dính bén với những thiện hảo đời này và sẵn sàng chiếm hữu chúng cách phi pháp thì tôi sẽ chủ trương rằng không có đời sau. Vì nếu có đời sau thì hệ luỵ tất yếu đó là tôi phải trả lẽ về những gì tôi đã làm ở đời này.
Kitô hữu vẫn hằng tuyên xưng trong các thánh lễ Chúa Nhật và Lễ trọng:“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy”(Kinh Tin Kình các thánh Tông Đồ) hay “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”(Kinh Tin kính Nicêa-Constantinôpôli). Giữa lời tuyên xưng đức tin và cuộc sống chúng ta đã có sự tương hợp thống nhất như thế nào? Cuộc đời các thánh, cách riêng các vị tử đạo là một lời tuyên xưng đức tin khả tín. Cả bảy anh em thời Macabêô và người mẹ đã anh dũng tuyên xưng đức tin về sự sống đời sau, khi chấp nhận trả giá bằng mạng sống của mình để trung thành với Thiên Chúa qua việc tuân giữ lề luật (x.2 Mcb 7). (Bài đọc thứ nhất).
Có thể nói rằng một dấu chỉ không thể thiếu của niềm tin về sự sống đời sau đó là can đảm đón nhận mọi gian khổ, sống tự do với những thiện hảo đời này, sẵn sàng từ bỏ chúng khi sự thật, công lý và tình yêu đòi hỏi.
Môt cuộc sống mà ngôn hành bất nhất thì chắc chắn thiếu sự khả tín và dĩ nhiên là không đáng kính mà nhiều khi còn bị dè bĩu, không trước mặt thì cũng sau lưng. Phải thú nhận rằng đang tồn tại hiện tượng nghịch lý và nghịch thường trong xã hội chúng ta: Những người chủ trương “duy vật” thì sống rất duy ý chí và cả “duy tâm” trong nhiều hình thái mê tín lầm lạc, còn người tuyên xưng có linh hồn bất tử, thân xác sẽ sống lại, tuyên xưng có sự sống đời sau thì lại sợ khó, ngại khổ, không dám mạnh mẽ rao truyền chân lý, chưa can đảm bảo vệ công lý, chưa sẵn sàng từ bỏ chút danh vị hay quyền lợi để sống giới luật mới, giới luật yêu thương mà Chúa Kitô đã truyền (x.Ga 13,34-35).
Xin thử hỏi rằng chúng ta đã can đảm đón nhận mọi gian khổ để rao truyền chân lý, để bảo vệ công lý chưa? Xin thử hỏi rằng chúng ta đã sẵn sàng từ bỏ những quyền lợi, danh vị của mình để sống yêu thương phục vụ tha nhân, phục vụ người nghèo, người khốn khổ, bất hạnh, bị áp bức, bị bỏ rơi… trong xã hội và trong giáo hội như thế nào? Thành thực trả lời những câu hỏi này thì chúng ta sẽ biết mức độ của lòng tin chúng ta vào Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống như thế nào và sẽ biết niềm tin của chúng ta về sự sống ngày sau ra sao.

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2010

William James

William James (January 11, 1842, New York - August 26, 1910, Chocorua, New Hampshire). William James was born in New York, son of Henry James, Sr., an independently wealthy and notoriously eccentric Swedenborgian theologian well acquainted with the literary and intellectual elites of his day. The intellectual brilliance of the James family milieu and the remarkable epistolary talents of several of its members have, since the 1930s, made it a subject of continuing interest to historians, biographers, and critics.
Contents

1 Early years
2 Professional career
3 Writings
4 Epistemology
5 Philosophy of Religion
6 Theory of Emotion
7 Philosophy of History
8 List of major works
9 External links

Early years
William James (like his younger brother, Henry James, widely regarded as one of the most important novelists of the nineteenth century) received a remarkably eclectic trans-Atlantic education, thanks in large part to his fluency in both German and French. His early artistic bent led to an early apprenticeship in the studio of William Morris Hunt in Newport, Rhode Island, but yielded in 1861 to scientific studies at Harvard University's Lawrence Scientific School.
In his years early adulthood, James suffered from a variety of physical and mental difficulties, including problems with his eyes, back, stomach, and skin, as well as periods of depression in which he was tempted by the thought of suicide. Two younger brothers, Garth Wilkinson (Wilky) and Robertson (Bob), fought in the Civil War, but the other three siblings (William, Henry, and Alice) all suffered from periods of invalidism. James was, however, able to join Harvard's Louis Agassiz on a scientific expedition up the Amazon River in 1865.
The entire James family moved to Cambridge, Massachusetts after William James decided to study medicine at Harvard Medical School and Massachusetts General Hospital in 1866; he obtained his degree in 1869 after several extended interruptions of his studies for illness, which led him to live for extended periods in Germany, in the search of cure. (It was at this time that he began to publish -- at first, reviews in literary periodicals like the North American Review.) What he called his "soul-sickness" would only be resolved in 1872, after an extended period of philosophical searching.
James's time in Germany proved intellectually fertile, for his true interests were not in medicine but in philosophy and psychology. Later, in 1902 he would write: "I originally studied medicine in order to be a physiologist, but I drifted into psychology and philosophy from a sort of fatality. I never had any philosophic instruction, the first lecture on psychology I ever heard being the first I ever gave" (Perry, The Thought and Character of William James, vol. 1, p. 228).
Professional career
James studied medicine, physiology, and biology, and began to teach in those subjects, but was drawn to the scientific study of the human mind at a time when psychology was constituting itself as a science. James's acquaintance with the work of figures like Hermann Helmholtz in Germany and Pierre Janet in France facilitated his introduction of courses in scientific psychology at Harvard University. He established one of the first -- he believed it to be the first -- laboratory of experimental psychology in the United States in Boylston Hall in 1875. (On the question of this claim to priority, see Gerald E. Myers, William James: His Life and Thought [Yale Univ. Press, 1986), p. 486].)
William James spent his entire academic career at Harvard. He was appointed instructor in physiology in 1872, instructor in anatomy and physiology in 1873, assistant professor of psychology in 1876, assistant professor of philosophy in 1881, professor of psychology in 1889, professor of philosophy in 1897, and emeritus professor of philosophy in 1907.
Writings
William James wrote voluminously throughout his life; a fairly complete bibliography of his writings by John McDermott is 47 pages long (John J. McDermott, The Writings of William James: A Comprehensive Edition, rev. ed. [Univ. of Chicago Press, 1977 ISBN 0226391884], pp. 812-58). (See below for a list of his major writings and additional collections)
He first gained widespread recognition with Principles of Psychology (1890), which criticized both the English associationist school and the Hegelianism of his day as competing dogmatisms, of little explanatory value, and which sought to re-conceive of the human mind as inherently purposive and selective.
Epistemology
James defined truth as that which works in the way of belief. "True ideas lead us into useful verbal and conceptual quarters as well as directly up to useful sensible termini. They lead to consistency, stability and flowing human intercourse" but "all true processes must lead to the face of directly verifying sensible experiences somewhere," he wrote.
In What Pragmatism Means, James writes that the central point of his own doctrine of truth is, in breif, that "truth is one species of good, and not, as is usually supposed, a category distinct from good, and coordinate with it. Truth is the name of whatever proves itself to be good in the way of beleif, and good, too, for definite, assignable reasons." Richard Rorty claims that James did not mean to give a theory of truth with this statement, and that we should not regard it as such; however, James does phrase it as the "central point" of the pragmatist doctrine of truth.
Pragmatism as a view of the meaning of truth is considered obsolete in contemporary philosophy, because the predominant trend of thinking in the years since James' death (1910) has been toward non-epistemic definitions of truth, i.e. definitions that don't make truth dependent upon the warrant of a belief.
A contemporary philosopher or logician will often be found explaining that the statement "the book is on the table" is true if and only if the book is on the table.
Pragmatism remains an important contribution, though, to discussions of the theory of knowledge, i.e. the question of when we can be said to know.
Philosophy of Religion
James also did important work in his study in the area philosophy of religion, providing a wide-ranging account of The Varieties of Religious Experience (1902) and interpreting them according to his pragmatic leanings. Some of the important claims he makes in this regard:
• Religious genius should be the primary topic in the study of religion, rather than religious institutions--since institutions are merely the remnant of genius.
• The intense, even pathological varieties of experience (religious or otherwise) should be sought by psychologists, because they represent the closest thing to a microscope of the mind--that is, they show us in drastically enlarged form the normal processes of things.
• In order to usefully interpret the realm of common, shared experience and history, we must each make certain "over-beliefs" in things which, while they cannot be proven on the basis of experience, help us to live fuller and better lives.
Quotes from The Varieties of Religious Experience
The entire text online http://etext.lib.virginia.edu/toc/modeng/public/JamVari.html
Theory of Emotion
James is one of the two namesakes of the James-Lange theory of emotion, which he formulated independently of Carl Lange in the 1880s. The theory holds that emotion is the mind's perception of physiological conditions that result from some stimulus. In James' oft-cited example; it is not that we see a bear, fear it, and run. We see a bear and run, consequently we fear the bear. Our mind's perception of the higher adrenaline level, heartbeat, etc., is the emotion.
This way of thinking about emotion has great consequences for the philosophy of aesthetics. Here is a passage from his great work, "Principles of Psychology," that spells out those consequences.
"[W]e must immediately insist that aesthetic emotion, pure and simple, the pleasure given us by certain lines and masses, and combinations of colors and sounds, is an absolutely sensational experience, an optical or auricular feeling that is primary, and not due to the repercussion backwards of other sensations elsewhere consecutively aroused. To this simple primary and immediate pleasure in certain pure sensations and harmonious combinations of them, there may, it is true, be added secondary pleasures; and in the practical enjoyment of works of art by the masses of mankind these secondary pleasures play a great part. The more classic one's taste is, however, the less relatively important are the secondary pleasures felt to be, in comparison with those of the primary sensation as it comes in. Classicism and romanticism have their battles over this point. Complex suggestiveness, the awakening of vistas of memory and association, and the stirring of our flesh with picturesque mystery and gloom, make a work of art romantic. The classic taste brands these effects as coarse and tawdry, and prefers the naked beauty of the optical and auditory sensations, unadorned with frippery or foliage. To the romantic mind, on the contrary, the immediate beauty of these sensations seems dry and thin. I am of course not discussing which view is right, but only showing that the discrimination between the primary feeling of beauty, as a pure incoming sensible quality, and the secondary emotions which are grafted thereupon, is one that must be made."
Philosophy of History
One of the long-standing schisms in the philosophy of history concerns the role of individuals in producing social change.
One faction sees individuals ("heroes" as Thomas Carlyle called them) as the motive power of history, and the broader society as the page on which they write their acts. The other sees society as moving according to holistic principles or laws, and sees individuals as its more-or-less willing pawns. In 1880, James waded into this controversy with "Great Men and Their Environment," an essay published in the Atlantic Monthly. He took Carlyle's side, but without Carlyle's one-sided emphasis on the political/military sphere, upon heroes as the founders or over-throwers of states and empires.
"Rembrandt must teach us to enjoy the struggle of light with darkness," James wrote. "Wagner to enjoy peculiar musical effects; Dickens gives a twist to our sentimentality, Artemus Ward to our humor; Emerson kindles a new moral light within us."
List of major works
• The Principles of Psychology, 2 vols. (1890)
• Psychology (Briefer Course) (1892)
• The Will to Believe, and Other Essays in Popular Philosophy (1897)
• Human Immortality: Two Supposed Objections to the Doctrine (1897)
• Talks to Teachers on Psychology: and to Students on Some of Life's Ideals (1899)
• The Varieties of Religious Experience: A Study in Human Nature (1902)
• Pragmatism: A New Name for Some Old Ways of Thinking (1907)
• A Pluralistic Universe (1909)
• The Meaning of Truth: A Sequel to "Pragmatism" (1909)
• Some Problems of Philosophy (1911)
• Memories and Studies (1911)
• Essays in Radical Empiricism (1912)
• Letters of William James, 2 vols. (1920)
• Collected Essays and Reviews (1920)
• Ralph Barton Perry, The Thought and Character of William James, 2 vols. (1935) [Contains some 500 letters by William James not to be found in the earlier edition of the Letters of William James]
• William James on Psychical Research (1960)
• The Correspondence of William James, 12 vols. (1992-2004)
________________________________________
Collections
• William James: Writings 1878-1899, Library of America, 1212 p., (1992) ISBN 0940450720
Psychology: Briefer Course (rev. and condensed Principles of Psychology), The Will to Believe and Other Essays in Popular Philosophy, Talks to Teachers and Students, Essays (nine others)
• William James: Writings 1902-1910, Library of America, 1379 p., (1987) ISBN 0940450380
The Varieties of Religious Experience, Pragmatism, A Pluralistic Universe, The Meaning of Truth, Some Problems of Philosophy, Essays

Note: In 1975, Harvard University Press began publication of a standard edition of The Works of William James.
See also:
William James - British naval commander (1720-1783)
External links
• Emory University: William James
• Stanford Encyclopedia of Philosophy: William James
• Great Men and the Environment: William James
Full texts of James's works:
• Essays in Radical Empiricism
• The Will to Believe
Categories: 1842 births 1910 deaths 20th Century philosophers Psychologists Social philosophy U.S. philosophers

Nguồn : http://www.fact-archive.com

Bài đăng xem nhiều nhất :